![]() |
![]() |
![]()
Bài viết
#1
|
|
Advanced Member ![]() ![]() ![]() Nhóm: Members Bài viết: 107 Gia nhập vào: 12-August 08 Thành viên thứ.: 795 ![]() |
Tôi là người Việt nên rất yêu mến Cội Nguồn người Việt.
Tôi thường nghe thầy tôi là Đức Hư Không Tạng Diệu Không kể lại rất nhiều lịch sử, nhưng đáng chú ý nhất đó là lịch sử Tiên Rồng. Thầy tôi kể, lịch sử Tiên Rồng là một lịch sử có thật, lịch sử tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Đã trải qua nghìn năm Văn Hiến do các Vua Hùng tôn thờ truyền lại. Thầy tôi nói, Quốc Tổ Hùng Vương là Đấng Chí Tôn Thiên Đế lâm phàm, đã để lại cho con cháu Việt Nam. Hai di sản quí hiếm. 1: Là di sản Non Sông Tổ Quốc. 2: Là di sản Văn Hóa Cội Nguồn. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng Dân Tộc. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Tinh Hoa vũ trụ, là tiền đồ ung đúc bao thế hệ tinh thần Dân Tộc, trở thành Dân Tộc Thần Thánh. Rừng vàng biển bạc Non Sông đất nước là tiền đồ ung đúc lên sự giàu sang ấm no hạnh phúc. Tôi lại hỏi. Thưa thầy: Nền Quốc Đạo Tiên Rồng tốt đẹp như vậy, sao không phát triển truyền bá rộng rải cho thế hệ con cháu gìn giữ? Thầy nói. Nền Quốc Đạo Tiên Rồng là Nền Thiên Luật vũ trụ, Hiến Pháp Đại Đồng Tạo Hóa, Đạo Trời, Thiên Đạo. Chỉ dành riêng cho Vua thờ, không phải Đạo của dân thờ. Hơn nữa trình độ dân trí thời ấy quá lạc hậu, tập tục mê tín dị đoan quá lớn. Hơn nữa Nền Quốc Đạo Tiên Rồng lời lẻ thâm sâu khó hiểu nên không thể truyền rộng rãi xuống dân được. Chỉ vào ngày hội lớn mới được nghe. Nhưng đó chỉ là lời truyền dạy khuyến thiện mà thôi, còn Tinh Hoa của Nền Quốc Đạo thời dân khó mà được nghe. Nền Quốc Đạo Dân Tộc là Nền Hiến Pháp, Luật Pháp trị Quốc an dân, Nền Quốc Học Văn Minh thời đại. Nhất là lọt vào Tà Ma Ngoại Đạo thời nguy hiểm cho đất nước, họ lợi dụng chánh giáo mê hoặc dân chúng, y giáo một đường giảng một nẻo. Bốp méo Luật Thiên chuyện không nói có chuyện có nói không. Nhất là kẻ thù có dã tâm xâm lược. Thời tai họa không biết đâu mà lường. Thầy nói. Giữ Tổ Quốc Non Sông đã khó. Giữ gìn Nền Quốc Đạo lại càn khó hơn, vì thế Văn Hóa Cội Nguồn được coi như là báu vật vô giá, được giữ gìn nghiêm ngặt. Hơn nữa Thiên Cơ chưa đến thời cơ chưa phù họp. Thời xa xưa ấy Dân Tộc Văn Lang nói riêng, nhân loại thế giới nói chung. Khoa học thế giới vật chất trên đà đang hình thành tượng búp, chưa thành búp nói gì đến nở hoa khoa học Văn Minh vật chất. Nên chưa chế tạo ra giấy bút tinh vi. Chỉ dùng da Thú thay cho giấy. Còn dùng thanh tre thay cho giấy là sau này mới có. Không những nền Văn Minh vật chất chưa thành búp mà ngay cả chữ viết cũng còn thô sơ lạc hậu không kém. Khó mà diễn tả ý của Văn Kinh. Lấy việc khắc tượng, vẽ hình họa cảnh lên đất, lên đá, lên cây để truyền dạy cho thế hệ sau. Sự truyền dạy ấy không mấy đem lại kết quả. Quốc Tổ Vua Hùng cũng thấy rõ được điều này. Nên nói rằng ta sẽ trở lại trần gian ở kỳ 3. Là thời kỳ trình độ dân trí lên cao. Khoa học vật chất đã nở hoa rực rỡ. Văn Hóa Cội Nguồn ra đời không có điều kiện để lại Kinh Luân. Mọi chuyện truyền giáo chỉ truyền khẩu cho nhau, thông qua khẩu tự ngôn từ Từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cứ thế kéo dài mấy nghìn năm thời chuyện gì xảy ra. Đó là tam sao thất bổn. Làm sai lệch chính văn là đều không tránh khỏi vì thế Nền Tinh Hoa Quốc Đạo cũng dần dần biến mất, thay vào đó là những chuyện sai lệch. Có thể nói buổi ban đầu truyền giáo, Quốc Tổ Vua Hùng thuyết kể về Con Rồng Cháu Tiên thật. Về sau qua nhiều thế hệ truyền giáo thuyết kể Con Rồng Cháu Tiên, qua những lý luận mơ hồ, kể lần ra loài Rắn nước không còn chút uy lực nào cả. Rồi bị ngoại xâm biến thành con giun dưới chân của chúng, Dân Tộc Tiên Rồng trở thành dân tộc nô lệ. Thế hệ con cháu Vua Hùng càng về sau càng đánh mất Tinh Hoa Văn Hóa Cội Nguồn. Từ một lịch sử anh linh cao đẹp, rồi trở thành một tập quán truyền thuyết chân lý mơ hồ. Từ đây con cháu Tiên Rồng sa vào cảnh tối tăm. Nô lệ ngoại bang, nô lệ Thần Quyền, nô lệ Kiến Thức. Nhất là những thức vô cùng độc hại dẩn đến cảnh nồi da nấu thịt, anh em tàn sát lẩn nhau. Đạo Đức xã hội xuống cấp trầm trọng, dẩn đến chiến tranh truyền miên khó mà kết thúc. Đói nghèo lạc hậu đeo bám cuộc đời. Thương thay. Thương thay. ********* Hết phần mở đầu Long Hoa Mật Tạng, mời khắp tần lớp xã hội con cháu Việt Nam, xem tiếp phần 1 chương 2 Long Hoa Mật Tạng Bộ Kinh tối cao, có một không hai trên toàn nhân loại. Chỉ cần đọc qua một lần, thời nhất định siêu sanh lên các tần trời, cõi trời hoặc trở thành những nhà lảnh tụ thiên tài. Lưu danh mãi nơi hậu thế. Nếu như đọc tụng ấn in, hoặc giảng giải cho người khác nghe, thời công đức phải nói là vô cùng vô tận. Phải nói là cầu đâu linh đó, cầu chi đặng nấy. Bằng có lời chi xúc phạm thời đại họa giáng xống không biết đâu mà lường. Chỉ cần khen ngợi một câu Muôn đời vạn kiếp siêu sanh cõi trời Chỉ cần xúc phạm một lời Họa tai giáng xuống đứng ngồi không yên Linh thiên linh ứng vô biên Chỉ cần thành kính cũng nên sang giàu. https://www.mediafire.com/file/yzzv6paw7xx3..._NGUON.zip/file |
|
|
![]() |
![]()
Bài viết
#2
|
|
Advanced Member ![]() ![]() ![]() Nhóm: Members Bài viết: 107 Gia nhập vào: 12-August 08 Thành viên thứ.: 795 ![]() |
CHƯƠNG 9
PHẦN 2 TU THIỀN Tu Thiền là gì? Nói một cách ngắn gọn dễ hiểu. Tu Thiền là làm cho tâm trí lắng yên, bình an, nhẹ nhàng thoải mái, hiệu quả của sự lắng yên tâm trí là làm phát sanh trí huệ, giống như ngọn lửa đang cháy hoặc lụn tàn, đổ thêm ngụm dầu làm cho ngọn lửa bừng sáng bốc lên cao. Tu Thiền có hai cách: ĐỊNH sanh THIỀN và THIỀN sanh ĐỊNH. Định: là tập trung tư tưởng vào một điểm cố định. Chú tâm lắng suy nghĩ, làm cho tâm trí yên lặng đó là Thiền. Sơ Thiền: là thư giãn buông thả tất cả, không vướng bận chi hết, lắng yên tâm thức bình an nhẹ nhàng, sự lắng yên Tâm Thức ấy gọi là Thiền sanh Định, cũng giống như ăn để sống, sống là do ăn Thiền sanh Định. Định sanh Thiền cũng vậy mà thôi, hễ có Thiền thì sanh Định, hể có Định thì sanh Thiền. Như vậy Thiền Định là một phương pháp mật tạng vũ trụ, làm cho tâm trí bình an, nhẹ nhàng, tĩnh lặng, xóa tan đi những năm tháng lao tâm, lao trí mệt mỏi. Cũng như dừng nghĩ không cho phát sanh nghiệp quả, nhất là nghiệp quả ác. Nói về Thiền, thì có từng bậc cao thấp khác nhau, thư giản dứt căng thẳng lo âu đó cũng là Thiền. Tiến sâu hơn nữa là buông thả tất cả tâm hồn tĩnh lặng, Đạo Thiền. Tiến sâu hơn nữa, giác ngộ Chân Tâm, Chân Tánh, an trụ Chân Tâm Chân Tánh, Chánh Đẳng Chánh Giác, tối thượng Thiền, Chánh Định, Tâm Hồn đã an trụ Chánh Định, thì coi như đã vào cảnh giới Cực Lạc. Nói về tu thiền luyện khí, luyện Đạo, luyện Quyền, luyện pháp, không phải bây giờ mới có mà đã có từ khi con người ra đời, nếu nói con người ra đời đầu Tiên vũ trụ thời xa xưa lắm, không có số lượng nào ví dụ được, vô số vô biên. Còn nói gần thì con người ra đời trên quả Địa Cầu nầy, thì cách đây 75 triệu 600 nghìn năm, trải qua gần 5 tiểu kiếp. Còn nói gần hơn nữa, tức là đầu tiểu kiếp thứ 9 người Hồng Hoang nguyên thủy, những người sống sót cuối tiểu kiếp thứ 8. Sống qua tiểu kiếp thứ 9. Cách đây năm nghìn năm, Quốc Tổ Hùng Vương ra đời. Ở vào thời kỳ nhân loại đã tiến hóa trên đà văn minh ý tưởng khắp đó đây, khắp vùng phương Đông đã có trên 60 giáo phái, mỗi giáo phái đều có sở trường khác nhau, nhưng nói chung mục đích là đưa con người đạt đến đỉnh cao, xưng hùng xưng bá thống trị Thiên Hạ. Nói đến Thiền Định, thì mỗi giáo phái đều có cách tu thiền luyện Định, ở bước đầu khác nhau như phái Thần Lửa. Định sanh Thiền. Ngồi xếp bằng nhìn vào ngọn nến cách đó không xa, tập trung tinh thần, chăm chú nhìn ngọn nến không chớp mắt, sau đó nhắm mắt lại và hình dung ngọn nến ở ngay điểm chính giữa hai chân mày, với phương pháp này, phái Thần Lửa Định tâm nhờ an trụ vào ngọn nến, nhờ định Tâm mà sanh Thiền. Thiền đã sanh thì Định tâm càng thêm kiến cố, tiến sâu hơn các tu sĩ, Đạo sĩ phái Thần Lửa này vận hành ngọn lửa Tâm Linh chạy khắp Châu thân, gọi đó là luyện Đạo, rồi ứng dụng ra quyền pháp, quyền thuật và đỉnh cao của giáo phái này là ngũ thông, lẩn quẩn trong cảnh giới của Địa Tiên. Ở vào thời kỳ này có tới hơn 60 giáo phái như phái Thần Quyền, phái Luyện Chú, phái Tuyệt Thực, phái Hít Thở, phái Luyện Đan, v.v... Đỉnh cao của các giáo phái này cũng không hơn được giáo phái Thần Lửa, cũng chỉ ở cảnh giới ngũ thông cảnh giới của Địa Tiên mà thôi. Nói chung các giáo phái ở vào thời kỳ ấy hầu hết là theo phương pháp, chú tâm vào một điểm nào đó để sanh thiền. Các giáo phái này còn mãi dò dẩm trong đêm tối, lẩn quẩn trong sanh tử, khó mà thoát khỏi luân hồi lục Đạo. Bị cái thấy, nghe, hay, biết của chính mình xây chuyển, khởi tâm chấp trước phân biệt khởi nghiệp liên miên. Còn tu thiền sanh Định là lối tu khó hơn, như phái Du già sau này thành phái Tăng già, là do quán tưởng sanh Định. Sơ căn của tu Thiền là thư giãn buông thả từ từ, cho đến buôn thả hoàn toàn, không vướng bận chi cả, giải tỏa cảm giác căng thẳng bận bịu vướng víu Tiến xa hơn nữa là dứt lần dục niệm, cội căn gốc rễ của mọi tội lỗi lầm cho tâm hồn trở nên trong sáng an lạc. Nhờ vào ý thức giác ngộ định tâm trở lại gọi đó là Thiền. Nói tóm lại sơ căn của tu Thiền là thư giãn buông thả từ từ, cho đến lúc buông thả hoàn toàn giải tỏa cảm giác căng thẳng yên tỉnh sâu lắng thanh thỏa tâm hồn. Đó là Thiền, nhờ công năng của Thiền. Định tâm trở lại, Thiền sanh Định. Tiến xa hơn nữa. Nhờ định tâm trở lại phát hiện những cái mà xưa nay mình không nghĩ tới. Có thể nói là lầm đường lạc lối sanh tâm nhàm chán, mãi chạy theo vô thường biển khổ lúc nào cũng căng thẳng mệt mỏi và kết quả cũng chỉ là con số không. Tâm hồn sa đọa, tương lai mờ mịt. Nhìn cảnh xô bồ vật lộn với đời. Đấu đá nhau dẫn đến lưỡng bại câu thương. Chạy theo dục vọng thấp hèn xa rời Đạo Đức, làm suy thoái truyền thống Đạo Đức Cha ông đúng là khổ, càng nghĩ càng sanh nhàm chán, sự nhàm chán ấy gọi là Thiền. Nhàm chán càng mãnh liệt, thì Định Tâm càng kiên cố bấy nhiêu. Và cứ thế Định Tâm càng lớn thời trí huệ càng tăng. Trí Huệ càng tăng, thì giác ngộ càng cao. Giác ngộ càng cao, thì Thiền trở nên kiên cố. Thiền trở nên kiên cố, thời Định Tâm vững như núi như non. Trí huệ trở nên Thánh Thiện. Tối cao của trường phái này là đạt đến cảnh giới Thiên Tiên chứng lục thông đang đà đi trên con đường giải thoát. Nhưng đối với Văn Hóa Cội Nguồn thì còn xa lắm đối với các trường phái này, huống chi các trường phái Thần giáo. Bà La Môn giáo thì còn xa vời vợi Văn Hóa Cội Nguồn hơn nữa. Còn tu Thiền của Thái Tử là sự tu Thiền của Đấng Đại giác ngộ, không có một phái nào sánh kịp. Tu Thiền luyện khí của phương pháp tối thượng Thừa, của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Đấng cứu thế. Theo nguyên lý sự sống con người vật chất nuôi thể xác. Đạo lý nuôi Linh Hồn. Theo quan niệm cuộc sống những lý luận xa vời thực tế thiếu khoa học, sẽ làm cho Linh Hồn lụn bại ngu xuẩn làm hại mình hại người. Ở đời ai cũng biết vật chất nuôi thế xác, nhưng vật chất đó tạp nhiễm chất độc hoặc ít hàm lượng chất bổ, thì kết quả sẽ ra sao khi ta ăn hoặc uống những vật chất tạp nhiễm, chất Độc đó. Có phải những vật chất độc hại ấy làm cho cơ thể ta nhiễm Độc theo phát sinh bệnh tật gầy yếu mất sức. Còn ngược lại vật chất trong sạch, không nhiễm Độc, lại dồi dào chất bổ. Sẽ làm cho cơ thể ta khỏe mạnh lạc quan yêu đời. Như ta đã biết vật chất dưỡng nuôi thể xác Đạo lý dưỡng nuôi Linh Hồn. Chúng ta tiếp thu Đạo lý trong sáng, sẽ làm cho Tâm Hồn trong sáng Thánh Thiện. Vì Đạo là món ăn tinh Thần của Linh Hồn. Đạo Lý nói ra thì nhiều nhưng ốm lại thì có hai mà thôi. Ác và Thiện, Phi Nghĩa và Chính Nghĩa. Người tu thiền luyện khí càng lên cao thì Tâm Hồn càng hướng về Chính Nghĩa, xa cuồng loạn, thì hợp lẽ trời thuận Thiên mệnh. Nhờ thuận Thiên mệnh, muôn phước vạn lành theo cuộc sống hiện ra và tiến tới tu Thiền luyện khí của bậc đại giác ngộ. Bằng ngược lại tu Thiền luyện khí lên cao tham cầu dục vọng xa rời Chính Nghĩa. Cuồng loạn tà Tâm, thì hậu họa không biết đâu mà lường. Theo lẽ người tu Thiền luyện khí kéo dài tuổi thọ nhưng vì Tâm Hồn hướng về nẻo ác phi Nghĩa. Cơ thể không dung hòa được Thủy, Hỏa, Phong, trong nội thể. Nặng thì tẩu hỏa nhập Ma, Tâm Hồn trở nên điên loạn ác độc tàn bạo vô cùng, đi lần đến sự hủy diệt. Nhẹ thì suy tim, suy gan, suy thận, giảm đi tuổi thọ. Thường tu Thiền luyện khí, thì phải nương theo cảnh quan trong lành, thanh vắng yên tĩnh, sẽ làm cho tâm hồn dễ định tĩnh hơn, chỉ trường hợp những bậc Đại giác ngộ đã chứng quả Ba La Mật. Hội ngộ Chân Tánh, Thật Tánh, Thật Tướng, Thật Pháp, Thiên Tạng, Luật Tạng, Pháp Tạng vũ trụ như hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Thì dù ở chỗ nào Thân Tâm vẫn thường thanh tịnh không tu không chứng không đắc gì cả, tùy nhân duyên sanh ra đời cứu thế mà thôi. Như Quốc Tổ Vua Hùng chẳng hạn, và còn không biết bao nhiêu vị đã xuống thế, hộ trì giữ gìn Văn Hóa Thiên Ấn, Thiên Bút Cội Nguồn. Tu Thiền luyện khí là mật Tạng vũ trụ, đưa Hành giả trở lại Cội Nguồn. Quả của tu Thiền là an lạc tâm hồn trí huệ sáng soi. Quả của luyện khí là sức khỏe dồi dào tăng thêm tuổi thọ. Tu Thiền luyện khí là Mật Tạng linh hồn, làm cho các giác quan khai mở linh hoạt nhạy bén, thông minh kỳ lạ, Thấu suốt quá khứ vị lai, khám phá ra nhiều điều kỳ thú, tiến tới cảnh làm chủ bản thân, làm chủ Tâm Linh, làm chủ vũ trụ. Đỉnh cao của tu Thiền là nhận ra bộ mặt thật của Linh Hồn. Minh Tâm Kiến tánh làm chủ Chân Tánh, làm chủ giác Tánh, tiến tới ngôi vị Chánh Đẳng Chánh Giác, vào cảnh giới vi Diệu thậm thâm, không thể suy nghĩ hay luận bàn được nữa. Sự tu Thiền luyện khí của Thái Tử, không giống các Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái thời đó. Dò dẫm từng bước và mỗi bước tu Thiền luyện khí, xuất hiện nhiều sự lạ cho rằng chứng Đạo hay đắc Đạo. Thái Tử vượt qua những chứng đắc chấp trước này của các Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái, tiểu thừa, trung thừa. Thái Tử nói. Mỗi tâm Linh từ bản thể Linh giác vũ trụ đi ra, khi trở về bản thể mỗi đoạn đường là mỗi mùa xuân. Do mật Tạng tâm Linh hiện ra mà thôi, không có gì mới mẻ cả. Các giáo sĩ, Đạo sĩ, Tu sĩ của các giáo phái, vì không hiểu Mật Tạng Tâm Linh, Thức tánh, Chân tánh của mình, có những công năng diệu dụng như vậy, chẳng khác nào kính được lau chùi sáng ra mà thôi. Cũng giống như người lực sĩ bị trói, làm giảm đi sức mạnh cũng như tài năng của mình. Tu Thiền luyện khí chính là phương pháp mở trói, khi trói đã được mở thì người lực sĩ tung bay thể hiện tài năng thấy, nghe, hay, biết của mình. Mỗi nấc thiền là mỗi lớp mở trói, mở trói cho đến khi không còn trói buộc bất cứ điều gì, thật sự tự do, thật sự giải thoát, thời liền nhận ra chân Tánh bộ mặt thật bí mật của Tâm Linh. Ông Tổ của muôn loại Thần Thông. Quyền năng vô hạn, ra khỏi sanh tử ở mãi ngôi Chánh Đẳng, Chánh Giác, tùy nhân duyên trở lại phàm trần cứu đời độ thế mà thôi. Các Đấng Đại Giác này từ Cội Nguồn đi ra rồi trở về Cội Nguồn một cách an toàn. Nói chung tất cả Tâm Linh cũng từ Cội Nguồn đi ra nhưng vì bị trói trong nghiệp lực. Lại quên mất đường về, bị vô minh che lấp Chân Tánh của họ. Nhìn thấy cảnh bị trói trong nghiệp lực, lại quên mất đường về Cội Nguồn, thọ lãnh đủ quả khổ, vì thương nhân loại Đức Chí Tôn mới xuống trần, mở đường chỉ đường cho nhân loại, trở về Cội Nguồn vào ngôi Chánh Đẳng Chánh giác ngôi nhà chung vũ trụ. Đức Chí Tôn đầu thai xuống trần sanh ra từ bụng mẹ như bao nhiêu người khác. Nhưng ý chí, trí huệ, lòng từ bi thời khác hẳn người phàm, rồi trở thành Đấng Cứu Thế. Trên bước đường trở về vũ trụ. Thái Tử không đi trên con đường tiểu thừa mà đi trên con đường Đại Thừa, Thượng Thừa, tối Thượng thừa. Không đi trên con đường Tiểu Đạo mà đi trên con đường Đại Đạo. Con đường Tự Do Đại Đồng Bình Đẳng. Chủ Nghĩa Đại Đồng chính là Văn Hóa Cội Nguồn. Không phân biệt Tôn giáo, Đảng phái, Chủng tộc, màu da, sang hèn, thiện ác. Ai đi trên con đường Đại Đạo Đại Đồng thượng thừa này, cứ mỗi bước chân là mỗi bông Hoa hạnh phúc, mỗi nấc thang là mỗi tầng mùa xuân. Sự tu Thiền luyện khí của Thái Tử là phương pháp tối thượng thừa, phá vỡ nhân duyên nghiệp lực, cởi bỏ phiền não nhanh chóng. Làm chủ ý thức, làm chủ Chân Tánh, tiến tới làm chủ vũ trụ, để rồi trở thành Đấng Cứu Thế, đưa nhân loại tới bến bờ giải thoát. Phát huy Chân Tánh an trụ vào cảnh giới Đại Đồng, muôn ý thành một ý, muôn Tánh thành một Tánh, sức mạnh Tâm Linh, ý chí Tâm Linh, ánh sáng Tâm Linh bộc phát dữ dội, phá vỡ vô minh nhanh chóng. Chúng ta nên lưu ý, mỗi tâm Linh con người là cả một thế giới Tánh Linh trong đó, có thể nói có tới 8 muôn 4 nghìn Tánh Linh, mỗi Tánh Linh có vô lượng Tánh Linh đồng chủng của nó. Ví dụ Tánh Tham, không phải chỉ có một tánh tham mà có vô lượng vô biên tánh tham đồng chủng tánh của nó. Tánh sân hận, Tánh ngu si, Tánh ngạo mạn, Tánh Đa nghi, Tánh bảo thủ, Tánh ganh ghét, mỗi Tánh đều có vô lượng vô biên tánh đồng chủng tánh với nó. Mỗi tâm Linh con người là cả một Vương Quốc Tánh Linh và chỉ có Chân Tánh mới có đủ khả năng làm chủ Vương Quốc Tâm Linh đó mà thôi. Còn 8 muôn 4 nghìn tánh do ý thức phân biệt khởi tạo ra đều là giả tánh, nên mỗi sở tánh trong tâm, không đủ quyền lực thống nhất Vương Quốc Tâm Linh mà chỉ có Chân Tánh mới đủ khả năng đó. Mỗi Vương Quốc Tâm Linh của mỗi con người khi Chân Tánh chưa xuất hiện, thì Vương Quốc Tâm Linh đó thường hay đảo lộn, lúc thế này, lúc thế kia vì không có Tánh chủ Tánh. Cũng như một đất nước không Vua, thế lực nào mạnh tạm thời thế lực đó làm Vua mà thôi, hết phước hết lực, thời thế mạnh hơn, khác tánh lên thay vậy, cứ thế lặp đi lặp lại mãi điên đảo. đảo điên luân hồi vạn nẻo. Kết luận Vương Tánh chính là Chân Tánh mà Chân Tánh là chủ của 8 muôn 4 nghìn chủng Tánh, chủng Tánh chính là sở Tánh, sở Tánh sanh ra do Chân Tánh, lúc còn mê gọi là vô minh, Chân Tánh vọng chấp phân biệt tạo khởi ra vô lượng thức tánh vô minh, ví như nước khởi tạo ra bọt nước, nước thì chỉ có một nhưng bọt nước thời nhiều. Dứt mê chấp gọi đó là Ngộ. Chủng tánh, sở tánh biến mất, trở về Chân Tánh, bọt nước tan biến trở về là nước. Vương Tánh, Chân Tánh xuất hiện liền làm chủ Vương Quốc Tánh Linh của mình. Mỗi Niệm của Vương Tánh, Chân Tánh là mỗi Niệm giác tha, giác hạnh làm cho Vương Quốc Tánh Linh Chủng Tánh. Hội Ngộ hội nhập thống nhất thành một khối tự do, Độc Lập, Bình Đẳng. Đại Đồng. Nhờ sự thống nhất muôn vạn thức tánh trở về một tánh chính là Chân Tánh, muôn ý trở về một ý. Nhờ thống nhất vương quốc Tâm Linh, nên Tâm Linh của Thái Tử trở nên mạnh mẽ phi thường dồn hết sức lực vào cảnh giới tu Thiền luyện khí nên tốc độ thành tựu nhị xác thân mau chóng không có mấy người tu hành theo kịp. Hỏi: Niệm Chân Tánh có quyền lực đến thế sao? Đáp: Đó là niệm của Chánh Đẳng Chánh giác do Chân Tánh phát ra, không những mỗi niệm có hiệu lực diệt vô lượng phiền não tội ác, còn có sức mạnh phá vỡ Địa Ngục sanh tử, hàng chục vô lượng vô biên chủng tánh sở tánh trong tâm. Chân Tánh là tánh tự nhiên. Tánh không Tánh, cũng là một thứ Tánh trong sạch vô vi mỗi niệm tánh này. Là mỗi niệm Chánh giác, diệt vô lượng vô biên phiền não, vô lượng vô biên tội ác, làm cho thế giới tâm Linh trong tâm trở nên trong sáng, phát sanh Công Đức không thể nghỉ bàn. Tánh thanh tịnh, ý thanh tịnh, trí thanh tịnh, cảnh giới tu Thiền trong tâm thức đã bước sang giai đoạn Đại Đồng, giai đoạn Tâm Tánh, ý thức, trí thức hợp nhất, liền hiển lộ Thần Thông. Giống như người lực sĩ tự mở sạch trói liền phát huy tác dụng sẵn có của mình. Như kính lau sạch bụi thì tất cả điều hiện rõ trong đó. (Minh Tâm Kiến Tánh). Linh Hồn con người đã trải qua vô lượng ức kiếp, mỗi kiếp ví như mỗi gon tàu nối dài vô tận, thành một chuỗi nhân duyên, từ quá khứ đến hiện tại, kiếp hiện tại là Đầu Tàu. Một phần tác động bởi nghiệp lực quá khứ, một phần do dục vọng ý thức trì níu cảnh giới hiện tại lao thẳng về trước, gieo mầm Thiện, ác kết quả nhân duyên nghiệp lực, luân chuyển trong ba đường sáu nẻo. Lên thiên Đàng hay xuống Địa ngục đều kết tập nhân duyên ở kiếp hiện tại này. Thái Tử vì quá hiểu rõ như vậy, nên mở đường cho nhân loại trở về Cội Nguồn, sống trên Thiên Đàng Cực Lạc. Nhờ hội Ngộ Chân Tánh sớm. Mặt Trời trí huệ của Thái Tử sáng soi, nên tu Thiền luyện khí thành tựu nhanh chóng. Các giác quan phát huy tác dụng hiển lộ Thần Thông. Tai, mắt, nghe, thấy khắp Địa Cầu, lần lần đến các Cung Trời. Theo như các Đạo sĩ, Tu sĩ, giáo sĩ cho đây là chứng Đạo, thành Đạo, Đắc Đạo. Thái Tử thì lại khác, đây là chuyện bình thường không có gì lạ cả. Nên Thái Tử thấy cũng như không thấy, nghe cũng như không nghe, không khởi ý tưởng phân biệt Thân tâm luôn luôn thanh tịnh. Vì Thái Tử hiểu rõ thật Tướng vũ trụ là không tướng, thật Tánh vũ trụ là không Tánh, thật sắc vũ trụ là không sắc. Những cảnh giới Thiên Đàng. Trần gian, Địa Ngục là do Âm Dương phân định, nhân duyên kết tập, Thiện, Ác, Mê, Ngộ phân ngôi phước họa luân phiên, quả không có chi là lạ cả, còn duyên thì nhóm hết duyên thì tan. Còn phước thì giàu sang, Quyền thế, hết phước thì nghèo khó, nói chẳng ai nghe, vô thường chuyển đổi có gì mới mẻ đâu, làm chủ ý thức, làm chủ Chân Tánh, làm chủ vũ trụ đó là việc nên làm. Tìm ra con đường cứu thế đáng quan tâm. Thái Tử hiểu rõ, con đường cứu thế không ở cõi trời, không ở nhân gian, không ở Địa Ngục mà ở ngay tâm Hồn của chính mình, Chân Tánh của mình tiến tới làm chủ vũ trụ, sống tự do Bình Đẳng, trong cảnh giới Đại Đồng an lạc hạnh phúc không còn sanh tử nữa. Cảnh quan vũ trụ đã hiện ra trước mắt nhưng Thái Tử không chú ý mà chỉ chú tâm tu Thiền luyện khí mà thôi. Càng tu Thiền luyện khí càng thấy cơ thể nhẹ nhàng như muốn bay bổng lên không, điều này cũng không có gì là khó hiểu. Theo Nguyên lý vũ trụ. Lực ép Khí, Khí ép Nước, Nước ép đất. Hay nói một cách khác. Thể Lực ép Thể Hơi, Thể Hơi ép Thể Lỏng, Thể Lỏng ép Thể Đặc, cũng vì theo nguyên lý tự nhiên trên, Trái Đất không dễ gì nổ tung được. Khi nào lực vũ trụ yếu đi, thì Trái Đất sẽ nổ. Thân thể con người là Tứ Đại giả hợp Đất, nước, gió, lửa mà phần hơi ấm của con người, Thể Đặc là chính nên con người dù đang sống trên mặt Địa Cầu, không bị tung bay ra không gian với tốc độ quay của nó. Biết rằng với tốc độ quay của nó đã tạo ra lực hút nhưng không đáng kể so với lực ép vũ trụ. Thể Đặc bị Thể Lỏng ép, Thể Lỏng bị Thể Hơi ép, Thể Hơi bị Thể Lực ép. Mà con người là một khối Thể Đặc, thì không cách gì bay ra khỏi mặt Địa Cầu, muốn bay ra khỏi địa cầu phải hiểu bộ máy huyền vi của vũ trụ, điều khiển chúng và làm chủ chúng. Hay nói ngược lại, Thể Lực hút Thể Hơi, Thể Hơi hút Thể Lỏng, Thể Lỏng hút Thể Đặc, sự hút, ép đó không phải do Thể Lực tự chủ mà do Thể Chủ của Thể Lực. Nói về Thể Chủ của Thể Lực vũ trụ chính là bản thể Linh giác của Tổ Tiên. Bản thể rộng lớn khắp hư không tác Động thành lập vũ trụ. Duy trì sự sống vũ trụ. Nói về sự sống con người là do sự phản tỉnh máy động Căn Thân Huệ Mạng Linh Hồn, Linh Hồn con người, duy trì sự sống con người qua trung gian thể lực và chân khí. Căn Thân Linh Hồn theo sự nhận biết thu hút vật chất tác động qua Thần Lực. Như Thái Tử tu Thiền luyện khí là do Linh giác Thái Tử chủ trì. Tóm thâu vô cực, Thái Cực Chân nguyên vũ trụ. Chân Khí – Tinh Khí Thể Hơi – Thể Lỏng vũ trụ tích tụ vào cơ thể. Sức mạnh Thần Thông cứ thế tăng lần lên. Đạt đến cảnh giới, Di sơn Đảo Hải. Từ sức mạnh con người trở thành sức mạnh vũ trụ. Không những Thái Tử hiểu rõ sự hình thành của Thể Lực, Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc mà còn hiểu rõ sự tiến hóa, cũng như mắc xích liên hoàn ép, hút của nó. Mà các thể trung gian luôn luôn đóng vai trò quan trọng. Chẳng hạn như Thể Hơi Chân Khí vũ trụ không những là trung gian của Thể Lực và Thể Lỏng bao bọc xung quanh Trái Đất, bảo tồn sự sống cho quả Địa Cầu. Mà còn rất quan trọng trong thể xác con người, luyện khí càng nhiều sức lực càng mạnh, luyện khí càng cao thi thể càng nhẹ nhàng, làm giảm đi sức ép vũ trụ, tự nổi lần lần giống như bong bóng sắt chìm mãi ở đáy nước, bỗng được bơm hơi vào tự nổi lần lên. Bong bóng tự thấy mình càng lúc càng nhẹ nhàng vì không khí bơm càng lúc càng nhiều vào cơ thể bong bóng. Nói tóm lại. Thể Hơi, Thể Lỏng, Thể Đặc đều có sự co giãn của nóng lạnh, ép, hút, lực vũ trụ, nhất là Thể Lỏng Thể Hơi có Lực đẩy phản hồi rất mạnh, chống lại Lực ép vũ trụ, không những thế, Thể Hơi Thể Lỏng tự phân định nổi chìm, nặng nhẹ khác nhau. Giữa các tiểu kiếp, lớp Chân Khí bao bọc trái Đất dâng cao 8 muôn 4 nghìn lớp chia làm 3 phần, Thượng, Trung, Hạ. Thượng có 3 phần, Thượng Thượng – Thượng Trung – Thượng Hạ, Trung Thượng – Trung Trung – Trung Hạ, Hạ Thượng – Hạ Trung – Hạ Hạ. Nói chung Thể Hơi gồm 3 phần, chín Địa Khí như thế, tự do phân định thứ lớp, non nhẹ thì nổi lên trên tiếp giáp với chân không vũ trụ, còn khí già thì bị ép chìm xuống tiếp giáp mặt đất. Lớp khí già là lớp khí chuyển sang Thể Lỏng Hơi Nước rồi từ hơi nước chuyển thành nước. Ba muôn lớp khí già tiếp giáp với mặt Địa Cầu, khí nóng là hơi, khí lạnh là nước. Nhất là mười nghìn lớp khí già, bị lực vũ trụ ép chìm xuống mặt Địa Cầu, khi nóng bốc hơi tạo thành cả nghìn lớp mây, khi lạnh liền chuyển thành nước rơi xuống mặt Đất gây ra lụt lội. Nhất là gần cuối tiểu kiếp gây ra các trận Đại Hồng Thủy, gây kiếp nạn cho nhân loại con người. Thái Tử khi thành Chánh quả thuyết giáo nói rằng: Nhân Loại hiện nay ở vào giai đoạn gần cuối tiểu kiếp, chỉ còn 10 nghìn năm nữa là hết tiểu kiếp thứ 9, chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, ba tầng chín địa lớp khí già này càng về sau càng thái chuyển thành nước, làm cho nước biển càng về sau càng dâng cao, gây ra những trận Đại Hồng Thủy diệt vong sự sống con người, nhất là những thế kỷ gần cuối tiểu kiếp, không chỉ là nước biển dâng cao và các trận Đại Hồng Thủy không đâu. Mà còn có cả Hỏa, phong, nhiệt độ nóng lạnh tăng cao bão lớn mà còn có cả Động Đất liên miên, hủy diệt nhân loại con người. Những ai còn sống sót chuyển sang tiểu kiếp thứ 10, trở thành người Hồng Hoang Bàng Cổ sơ khai. Ở vào thời kỳ Thái Tử ra đời, ba muôn lớp khí non, hầu như cạn kiệt biến mất, chỉ còn lại mờ nhạt rất hiếm. Ở vào thời kỳ con người dần dần nặng nề, con người tu thiền luyện khí, kết tụ nhị xác thân tinh khí thần, hầu như không đạt được đỉnh cao thường thường là chỉ ở vào cảnh giới của Địa Tiên ít ai đạt đến cảnh giới của Thiên Tiên. Lớp khí non là Thái Cực Chân Nguyên, Tiên Thiên Chân Khí, lớp khí này hầu như biến đi cạn kiệt gần hết, chỉ còn lớp khí già dày đặc Hậu Thiên Chân Khí. Hậu Thiên Chân Khí hay còn gọi là Địa Thiên Chân Khí. Ở vào thời kỳ này người tu thiền luyện khí khó có người tu luyện thành nhị xác thân Tiên Thiên mà chỉ tu luyện thành nhị xác thân Hậu Thiên, Địa Thiên mà thôi. Nên khó đạt đến cảnh giới thượng thừa, ngang tầm với Thiên Tiên được. Nhưng Thái Tử thì lại khác, vì Thái Tử chính là Đức Chí Tôn đầu thai, đã trải qua vô lượng kiếp tu hành thanh tịnh, khí Tiên Thiên lúc nào cũng tích tụ nơi tâm Hồn Thái Tử. Căn Thân Huệ Linh Hồn Thái Tử là Căn Thân Huệ Mạng Chánh Đẳng Chánh Giác Nên hào quang nơi Tâm Thái Tử lúc nào cũng sáng soi khắp cùng Trái Đất. Hay nói một cách dễ hiểu, Tâm Hồn Thái Tử lúc nào cũng tràn đầy tiềm lực, ẩn tàng khí Tiên Thiên mà không phải người nào cũng có. Thái Tử thu nạp Chân Khí vũ trụ, hội tụ ở Đan Điền, để cho Âm khí Dương khí giao hòa với nhau kết sanh nhị xác thân. Nhị xác thân hình thành tới đâu, thời ngũ thông hiển lộ tới đó, Thái Tử càng lúc càng thấy những thứ, người thường không thể nào thấy được, tai Thái Tử nghe những tiếng mà người thường không thể nào nghe được, Thái Tử cảm nhận sự biến đổi trong đời sống xã hội mà người thường không thể nào cảm nhận được. Thái Tử giờ đây đã thấy rõ nhân loại, nhân gian phàm trần, đang sống trên biển nước loãng, tức là phần khí già bao bọc xung quanh quả đất. Còn nước biển Đại Dương hay ở sông hồ, đó chẳng qua là do biến động của Âm Dương, nóng, lạnh, làm cho Thể Lỏng ở dạng lúc là nước, lúc là khí. Không những thế Thái Tử còn thấy rõ, ngoài quả Địa Cầu này ra còn 4 quả Địa Cầu khác, có nhân loại phàm trần đang sanh sống đông đúc, nhưng sự thấy này không phải là mục đích, mục tiêu mà Thái Tử đang tìm. Thái Tử đang tìm là tìm Văn Hóa Cội Nguồn, Thiên Đạo vũ trụ Chủ Nghĩa Đại Đồng, mở đường cứu thoát nhân loại. Đây mới chính là mục tiêu, mục đích của Thái Tử, vì vậy Thái Tử cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa đạt đến đỉnh Quả trí huệ cao nhất, mới đủ khả năng mở ra Văn Hóa Cội Nguồn Thiên Đạo Thiên Ấn vũ trụ. Vì thế Thái Tử vẫn tiếp tục tu thiền luyện khí, kết hợp với ăn Chay, hầu mau đạt đến kết quả, nhìn Thái Tử hiện giờ da thịt mịn màng hồng hào phát sáng làm tăng thêm vẻ uy nghi tuấn tú. Đạt đến cảnh giới này, Thái Tử như hiểu ra một điều, không có sự nỗ lực nào mà vô ích, nhất là sự nỗ lực vì Nhân Loại lại càng cao quí hơn nữa, làm cho sức mạnh tinh thần trở nên Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, Đại ý chí đạt đến cảnh giới phi thường. Mỗi niệm của Thái Tử là mỗi niệm chuyển Thiên Hạ về Trời. Mọi vạn vật sanh tạo ra đều có nguồn gốc nhân duyên, nghịch thuận của nó, cũng như đất – nước – gió – lửa, Thể Lực – Thể Hơi – Thể Lỏng – Thể Đặc, nguồn gốc nhân duyên sanh ra nó. Theo nguyên lý vũ trụ hể cái gì có sanh, thì phải chuyển hóa, từ dạng này sang dạng khác và cuối cùng bị hủy diệt trở về chân không. Nơi vũ trụ có một bản thể không sanh diệt đó là bản thể Linh giác vũ trụ hay còn gọi là bản thể Linh giác tối thượng Tổ Tiên, bất tăng, bất giảm. Không cấu nhiễm, trong sạch vô vi, thường còn mãi mãi, không sanh ra cũng không diệt đi, trước sau như một, như như thường còn, không có sự khởi đầu nên không có sự chấm dứt. Vô lượng thọ. Chính bản thể Linh giác vũ trụ vô lượng thọ này, Tịnh thì sanh Lực, Động niệm thì sanh thức, đây là một quy luật không thay đổi, Linh giác vũ trụ an trụ Đại Định, thì sanh ra Thần Lực vũ trụ. Thần Lực sanh ra một thời gian liền chuyển đổi, trẻ, trung, già, tử. Tử là chuyển đổi qua dạng khác. Chẳng hạn, lực già chuyển ra khí, khí già chuyển ra nước, nước già chuyển ra lớp bụi phù sa vũ trụ rồi trở thành Đất, làm tăng thêm sự sống cho thế giới Thực Vật cũng như thế giới Động Vật. Người tu Thiền luyện khí, thì phải hiểu rõ chu kỳ kết tinh, chu kỳ giao hợp chuyển hóa của Trời, Đất. Nói về ngày, đêm. Ngày là Dương, Đêm là Âm, theo quy luật của Tạo Hóa. Dương non, dương già không kết tinh mà chỉ kết tinh ở giai đoạn trung Dương mà thôi. Thời điểm kết tinh hoàn hảo nhất trong ngày là giờ Ngọ. Âm cũng thế, âm non, âm già không kết Dịch mà Kết Dịch vào giai đoạn trung âm, đỉnh cao của sự kết Dịch đó là vào giờ Tý. Còn Mẹo – Dậu là giờ chuyển giao âm Dương, vạn vật sanh sôi nẩy nở tiến hóa từ đây. ÂM – DƯƠNG kết tụ Tinh – Dịch rồi giao nhau tiến hóa, bồi đắp sự sống sinh sôi sự sống, cả nghịch lẫn thuận, cả sinh lẫn tử. Tinh, Dịch vũ trụ của thể hơi, khí, thể lỏng, nước, thể đặc, đất. Phần lớn là do hơi ấm vũ trụ tác động mà thành. Sự kết Tinh – Kết Dịch ba thể như sau: 1: Thể Đặc: kết tụ Tinh – Dịch ở Tý – Ngọ, giao hóa chuyển hóa ở Mẹo – Dậu giao thời giữa ngày đêm. 2: Thể Lỏng: kết tụ Tinh – Dịch ở Tý – Ngọ, giao hóa chuyển hóa ở Mẹo – Dậu ở tháng. 3: Thể Hơi, khí già: kết tụ Tinh – Dịch ở Tý – Ngọ, giao hóa chuyển hóa ở Mẹo – Dậu ở năm. Cứ 3 năm tu thiền luyện khí là một nấc thang tiến hóa lên. Tu thiền luyện khí đến 9 năm thì nhị xác thân bắt đầu hình thành, luyện tới 12 năm 1 giáp thì thành nhị xác thân. Nếu tu thiền luyện khí nửa Hoa giáp 30 năm, thì sẽ đạt đến Ngũ Khí Triều Nguyên, thêm 30 năm nữa đúng một Hoa giáp 60 năm, thì sẽ đạt đến Tam Hoa Tụ Đỉnh, nhị xác thân theo ý tưởng biến hóa vô cùng. Nói thời nói thế, như Kinh Dương Vương tu thiền luyện khí hơn 70 năm vẫn chưa thành còn ở giới pháp thuật thần thông hạn hẹp, đi trên mặt nước như đi trên đất liền, phi thân như tên bắn, Thần Lực theo ý tuôn ra thành chưởng lực. Nhưng Thái Tử thì lại khác, vì Thái Tử hiểu rõ quy luật tu Thiền luyện khí, cũng giống như người bơi rành, người mới tập bơi sự tu Thiền luyện khí ở cấp thượng thừa. Thái Tử là Ông Tổ của tu Thiền, chỉ trong vòng hơn 3 năm đã đạt đến cảnh giới Tam Hoa Tụ Đỉnh, Ngũ Khí Triều Nguyên, tiến lần đến cảnh giới Thần Thông Quảng Đại. * * * Hết Phần 2 chương 9 mời xem tiếp phần 3 chương 9 Long Hoa Mật Tạng. Long Hoa Mật Tạng Kinh là bộ kinh tối mật hàng triệu triệu năm mới xuất hiện, nếu không phải đã tu vô lượng kiếp thờ Trời thì không dễ gì gặp được bộ kinh nầy. Bộ Kinh tối cao của Phật, Thánh, Tiên, Thần, Chúa. Là báu vật Vũ Trụ quý hiếm đến nỗi luận bàn trăm nghìn kiếp cũng không thể nào hết được. Ngâm nga vài chữ kệ kinh Siêu sanh thượng giới đăng trình cung mây Kinh nào hơn được kinh đây Mật Kinh vũ trụ tối cao đất trời Chỉ cần ca ngợi một lời Giàu sang phú quí, cõi Trời khó chi. * * * |
|
|
![]() ![]() |
.::Phiên bản rút gọn::. | Thời gian bây giờ là: 30th August 2025 - 05:21 PM |