Feb 23 2007, 02:05 PM
Bài viết
#1
|
|
![]() Bạn của mọi người ![]() ![]() ![]() Nhóm: Administrators Bài viết: 20,821 Gia nhập vào: 13-February 07 Từ: 103 ngách 2 ngõ Thái Thịnh I Thành viên thứ.: 5 |
Các bạn ở đâu trước ngày chào đời Thai giáo quan trọng như thế nào? Nguyên tác của Ohsawa, A.M Ngô Thành Nhân dịch Sống trong thế giới hữu hạn, những nhà có tư tưởng cải tạo xã hội diễn ra nhiều trò tự cho là phương tiện đạt đến cứu cánh chân thiện mỹ: các nhà tôn giáo, các nhà giáo dục tự gán cho mình cái trách nhiệm dẫn dắt đàn em đi vào đường thiện, các nhà cách mạng hô hào đập đổ cái cũ, xây dựng cái mới! Biết bao là lý tưởng! Nhưng tất cả chỉ là kết quả của phán đoán lực thuộc giai đoạn 1,2,3,4,5,6 của vòng xoắn ốc đối số! Không làm gì lên được giai đoạn thứ 7. Thử hỏi đã có nhà tôn giáo, giáo dục nào hay đoàn thể cách mạng nào cải tạo được xã hội cho hoàn thiện chưa? Chưa bao giờ thấy. Tại sao? Vì các nhà lãnh đạo không chú trọng đến chỗ cội rễ làm phương tiện, mà chỉ chạy theo cái ngọn! Vậy muốn cải tạo xã hội không gì hơn xây dựng từng cá nhân một ngay từ trong bào thai mẹ nhờ cách dinh dưỡng đúng phép. Cho nên vấn đề thai giáo vô cùng quan trọng. Xã hội tốt đẹp hay xấu xa, do chính các bà mẹ. Chín tháng 10 ngày của đứa con các bà cưu mang là nền tảng của xã hội tốt hay xấu ngày sau. Chẳng có nhà tôn giáo nào, nhà giáo dục nào hay nhà cách mạng nào cải tạo được xã hội một cách đúng nghĩa. Chúng tôi dịch bản sách này, chứa chan hy vọng nơi các bà mẹ. Anh Minh Ngô Thành Nhân. Các bạn ở đâu trước ngày chào đời? CHƯƠNG I …Ngày nào…tháng nào…năm nào …?Anh sinh ra lúc nào ? Trước 300 ngày ấy anh ở đâu? Kìa ?… Bộmặt anh ra thế nào ? Kìa ?… Ba mươi năm về trước anh ở đâu? Bao giờ anh chết? …Anh có biết các điểm ấy không? Trong khoảng 24 tiếng đồng hồ anh sẽ chết! Có thể lắm ? úi chà! Quả trong 24 tiếng đồng hồ thì chết!Trong một giờ, hai giờ, ba giờ, năm giờ, sáu giờ chăng ? Nhất định vậy. Cứ đợi cái ngày ấy. Nhưng điều tôi muốn biết là sau khi chết,anh ở đâu?… lại trở về đất… Vậy thì anh ở dưới đất trồi lên à? Đâu có, tôi nhờ cha mẹ đẻ ra… Thử hỏi cái gọi là “con người”ở đâu mà ra? Hỏi vậy phải chịu bí ! ở đâu mà đến, sẽ đi về đâu ? Cái con người kia chẳng biết được lẽ ấy sao ? Làm con mà không biết có cha mẹ, rõ là con vô phước, bất hiếu ! Một đứa con mồ côi ! Còn con người, trước khi chào đời ba trăm ngày, 365 ngày, 2 năm, 3 năm, 30 năm thử hỏi ở đâu ? Bộ mặt thế nào ? Đã suy nghĩ như thế nào ? đã làm những gì trong ba trăm năm, ba ngàn năm, ba chục vạn năm về trước ? Chẳng có ở đâu cả sao ? Người ta không thể trả lời được…Nhưng trong lòng vẫn tự nhận thấy mình là cái gì. Người ta vẫn tự thấy sau khi chết một năm, hai năm, năm năm, ba mươi chín năm…đã thành ra đất. Lắm lúc tự miệng thốt ra một cách vô ý thức: “Tôi đã tái sinh bảy lần và tôi đã làm…những…”. Tại sao lại nói “bảy lần” ? Tại sao không nói tám lần, tám chục lần, trăm lần. Chính con số bảy là con số có nghĩa là “vị hoàn liễu” hoặc “vĩnh viễn vị hoàn liễu” (con số 8 ở phương Đông là con số “hoàn liễu”. Ví dụ, số 8 quyển chẳng hạn. Cũng có nói “bảy quyển rưỡi”… Dầu thế nào tôi cũng biết được con người đã tái sinh bảy lần trong thế gian và số “bảy lần” ấy nói gấp lên thành “70 lần”, lại gấp lên “bảy trăm lần”. Chính Jesus đã biết được như thế: “Nhà người dẫu bị phạm tội bảy lần, ta cũng tha thứ cho. Dẫu nhà người có phạm tội bảy chục lần, ta cũng tha thứ cho…” Chỗ chân chính tái sinh là chỗ tái sinh của “con người” hoặc là tâm. Nếu tâm hồn không tái sinh thì chẳng phải là chân tái sinh. Tâm hồn được tái sinh thì thể xác cũng tái sinh, bộ mặt cũng thay đổi hẳn. Chỗ ấy ai ai cũng đều biết. Có câu thường nói: “Nếu không thay lòng đổi tính thì việc ấy không thể làm nổi…Nhưng phần tái sinh mà người ta trông thấy kia tức là chỗ tái sinh của thể xác tái sinh. Người ta cho thân thể tái sinh là khó, còn tâm hồn tái sinh là dễ, lại thường quả quyết: “Thay đổi được tâm hồn thì tôi có thể làm…” Sự thật thì thể xác và tâm hồn của chúng ta hằng ngày đều tái sinh. Hằng ngày chúng ta ăn các thứ trái cây, rau cỏ; những loại trái cây và rau cỏ ấy và các loại oxi và nước đã tự huỷ diệt để tạo nên chúng ta. Không có các loại ấy, chúng ta không thể nào sống được… Cỏ rau tự huỷ diệt trong thân thể chúng ta mỗi ngày, và lạ nhất là chúng lại tái sinh thành con người… Và những rau cỏ ấy cũng là do nhiều nguyên tố (atome) khác biệt ở dưới đất tự hy sinh để tái sinh thành loài rau cỏ. Các nguyên tố ấy lại do các phân tử tự diệt để tái sinh ra. Các phân tử (éléments) lại do khí lực (énergie) tái sinh. Rồi khí lực này do nhị cực Âm Dương tái sinh… Vậy con người kia phải tái sinh cái gì chứ ? Thì lúc nào cũng là “thiện nhân”. Tức là con người càng ngày càng thiện, càng ngày càng tự do, càng ngày càng công bình, càng ngày càng hạnh phúc. Trong thâm tâm bất kỳ ai cũng muốn làm sao cho được chóng tái sinh sớm được ngày nào càng quí… Mục tiêu tái sinh của con người là tự do và hạnh phúc. Mỗi đêm nằm ngủ tức là quay trở lại khởi điểm. Trong thời gian nằm ngủ ấy người ta không thể không mưu tính trở về khởi điểm xuất phát của mình. Kẻ nào bắt tay vào việc mà có trù liệu đúng đắn, thế nào cũng đạt được kết quả tốt đẹp. Họ sẽ ung dung đi một mạch trong đời bất kể thời gian và không gian. Ngày thứ 300 trước khi chào đời của con người là mức xuất phát điểm cuối cùng để từ thế giới bên kia bước vào thế giới này. Kẻ nào không hiểu rõ bí ẩn của cuộc hành trình, không thể nào phát kiến được kỹ thuật của việc tái sinh. Dưới đây chúng tôi dựa theo bản của Gilbert phu nhân thử nghiên cứu về 300 ngày trước khi chúng ta ra chào đời tức là điểm xuất phát của đời chúng ta. Với kẻ nghiên cứu về sản sinh học không chuyên nghề như thế, không khỏi lắm chỗ lầm lẫn khôi hài, vậy mong các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo CHƯƠNG II Đứa bé sứt môi và bà mẹ Bà N từ huyện H lấy tư cách đại biểu hội phụ nữ bảo kiện đến Đông kinh để dụ buổi đại hội về vệ sinh, có đến thăm viếng Trung tâm Trường sinh và gặp ông giám đốc. Bà ấy gần 40 tuổi, chồng bị tử trận trong kỳ chiến tranh cách đây 10 năm. Bà ấy có hai đứa con gái, một đứa độ 17,18 tuổi, một đứa 15,16 tuổi. Con em bị sứt môi. Bà lấy làm buồn, muốn làm sao chữa cho con được lành tử tế, vì lúc còn nhỏ mỗi khi cho bú, bà phải lấy hai ngón tay kẹp cái môi sứt lại cho sữa khỏi chảy ra. Kết quả ra thế, chẳng biết vì đâu sinh ra. Cái môi như thế người ta cho là môi chó sói. Thân hình đứa bé bạc nhược, thường đau ốm luôn. Từ ngày chồng qua đời, bà vừa làm nông vừa đùm bọc hai đứa con trải mười năm, ở tại nhà chồng, mong mỏi làm thế nào chữa cho con lành được tật kia mới mãn nguyện. Bà lần hồi học hỏi, thành ra một y tá và cố vấn hội bảo kiện phụ nữ. Bà dò dẫm trong y học, và đâm ra tuyệt vọng. Nói đến việc này cũng thật đáng buồn. Sau khi bà N ra về, chúng tôi đem việc sứt môi này ra nói… Sự thật thì chỉ vì bà mẹ ăn uống mà sinh ra, người xưa thường bảo con trẻ sứt môi chỉ vì bà mẹ trong khi thai nghén có ăn thịt thỏ, nên đẻ con sứt môi như môi thỏ vậy, nghĩ cũng không sai. Lúc sơ sinh mọi người thảy đều có cái môi sứt như thế, nhưng đa số hai bên tả và hữu của môi trên dần dần díu lại ở giữa. Khi lớn lên, đến trọn đời ta thấy phía dưới lỗ mũi có một đường trũng như cái lòng xối kia tức là dấu hiệu chỗ môi díu lại ấy. Trong tháng đầu của cái thai, mọi người đều sứt môi. Đến tháng thứ hai, không còn thế nữa. Nếu trong thời gian ấy bà mẹ ăn uống những món ăn không đủ sức khiến cho cái môi díu lại, thế là thành ra sứt môi. Nhưng dầu cho môi đã díu lại rồi, nhưng không giữ gìn ăn uống, cái môi lại dang ra không chịu díu lại, vì lúc đầu thịt còn mềm mại, sau đó sẽ đẻ ra con sứt môi. Số bé con sinh sau tháng 8 và 9 (dương lịch), thường bị sứt môi nhiều, là vì trong những khoảng thời gian ấy những thực phẩm có sức làm cho môi không díu lại bán đầy chợ, tức là thức ăn có âm tính nhiều hơn Dương và các bà mẹ lại ăn uống bừa bãi. Chỉ có muối (Na) có thể làm cho cứng và díu môi lại. Muối ở đâu cũng có, ăn lúc nào cũng được. Nhưng những loại chống lại muối thì vô số, như nước, đường, K(Kali), S(lưu huỳnh),O3, O2N. Nếu ta đem đỗ đỏ nấu với một ít muối, thấy nó khó mềm lắm. Như khi nấu khoai môn chẳng hạn, ta nêm muối ngay khi bắt đầu nấu, thấy món ăn ấy chín mà không nát nhừ; trái lại nấu với nước cho nhiều hoặc nấu với đường, thấy nó rục bấy ra. Nếu nấu rau với một ít muối thấy nó mềm và chóng rục. Các loại cải củ, khoai, lúa và lúa mì ngày nay trồng thấy củ to lớn là vì người ta trồng với phân hoá học. Nếu không có các nguyên tố để làm cho dịu lại, làm cho nở lớn ra thì tất nhiên loài rau cỏ và con người sẽ rút nhỏ lại, cứng rắn và cằn cỗi chứ không lớn bự ra (chẳng khác nào loại cải muối bảy năm bỏ trong Misô). Thiếu các nguyên tố để làm cho co súc lại cúng đáng buồn như thiếu các nguyên tố làm cho phân liệt ra vậy. Chúng ta mệnh danh các nguyên tố làm cho co súc lại là “Dương”, cái làm cho giãn nở ra là “Âm”. Thành phần của hai loại Âm Dương ấy quyết định tất cả hình chất của vạn vật. Trong việc điêu khắc, người ta gọi sự phối hợp điều kiện Âm Dương để tạo ra các hình đẹp đẽ là Hoàng - kim Luật. Theo sinh lý học, bảy Âm chống lại một Dương tức là Hoàng - kim Luật. Thể xác nào có được Hoàng kim Luật ấy tức là thể xác kiện toàn. Chỗ phát kiến về Âm Dương, hai chữ Âm Dương là chỗ quang vinh của người Trung - Quốc xưa. Do đầy đủ chứng cứ ưu việt về Thế giới quan, Vũ trụ quan là thế nào. Ngầyny đem hai dấu đẻ thay thế cho hai chữ Âm Dương. Hai dấu này rất tiện trong khi trình bày hoá học và vật lý học ra trước mắt mọi người về quan niệm vũ trụ cũ kỹ ngày xưa. Hai dấu hiệu ấy không những phát triển đượckhoa học tự nhiên mà còn đưa thế giới quan và vũ trụ quan đi sâu vào trong cảnh sinh hoạt hàng ngày của con người. Ngoài ra chúng còn chỉ cho ta thấy nơi nào có cảnh tự do vô biên, công bình tuyệt đối và hạnh phúc vĩnh viễn. Thật ra, sinh ra sứt môi là vì trong các thức ăn của bà mẹ Âm gấp bẩy lần Dương. Đây chẳng phải là đề cập đến một nguyên tố riêng biệt nào mà là vấn đề quân bình tỷ lệ tổng quát giữa Âm và Dương của các thực phẩm. Lối kế toán này rất khó khăn. Nhưng trong cuộc sinh hoạt hàng ngày hiện nay tìm cho ra tỷ lệ Âm Dương trong thực phẩm cũng chẳng lấy gì làm khó. Dưới đây chúng ta xem những người đàn bà như thế nào mới sinh ra con sứt môi: 1) Mỗi ngày (24 giờ) đi tiểu trên 3 lần. 2) Mắt lồi. 3) Giáp trạng tuyết lớn. 4) Kẻ có chấm đo đỏ cùng khắp thân mình. 5) Chảy nước mắt rất dễ dàng. 6) Kẻ quá thích ăn trái cây. 7) Kẻ thích ăn những loại dưa, cà, khoai tây. 8) Kẻ thích ăn bánh kẹo. 9) Kẻ chậm chạp, hay lãng trí, không có trí nhớ. 10) Kẻ đi đại tiện lỏng và mầu phân nâu sậm. Người đàn bà nào mắc phải 3 trong 10 đặc điểm nói trên đều dễ sinh ra con sứt môi. Vì thế theo nguyên tắc thì người đàn bà nào có thai trong khoảng tháng bảy hoặc tháng tám (Dương lịch), và có đặc điểm ở số 8,7,6,1, thế nào cũng sinh ra đứa con miệng rộng, nếu không cũng sứt môi. Dầu cho người có thai trong khoảng tháng 11 hoặc tháng chạp, nhưng luôn luôn ăn những cam, hoặc lê hoặc các loại cà, trái cây, dưa, khoai tây, thế nào cũng sinh ra con sứt môi. Trong thiên nhiên chăng có gì là bí mật cả (Jizen ni himitsu wa nai). Món ăn là yếu tố tối quan trọng của hiện tượng sinh lý của sinh mệnh., nhất là trong khi còn ở trong bào thai của bà mẹ. Chỗ quan trọng chiếm đến 2.999.999.999 phần trên 3.000.000.000. Bởi thế con người lúc mới đầu ở trong bào thai chỉ bằng một phần của một trăm triệu gam, đến khi sinh ra lớn bội lên đến 3.000.000.000 của 3.000 gam. Nghiên cứu tỷ mỷ về quá trình của con người trong bào thai của bà mẹ chắc chắn, chúng ta sẽ biết được những gì đã xảy ra sau lớp màn bí mật đã bao trùm thật cảnh của sinh mệnh. Muốn thế, phải lấy Vô song nguyên lý (P.U) để nghiên cứu về sản sinh học. Nghiên cứu như thế chúng ta được rõ một phần là kỹ thuật phân tích chỗ vi hiển của sản sinh học, y học, sinh lý học và giải phẫu học phương Tây phát triển đến mức nào, đồng thời phát kiến được chỗ ưu việt kỳ diệu của triết học phương Đông (tức nguyên lý sinh hoạt tự do và hoà bình, sức khoẻ và hạnh phúc) kỹ thuật về sinh mệnh và cuộc sinh hoạt hàng ngày phát triển từ mấy nghìn năm ở Đông phương đã tạo ra một lịch sử hoà bình và tự do chưa bao giờ thấy ở phương Tây. Cuộc đời hoà bình và tự do này chỉ căn cứ vào sự nghiên cứu, phát triển và áp dụng trật tự của vũ trụ, quy luật của Tự nhiên, của nguyên lý âm dương. Chương III Chỉ là thế giới hoang phí Đọc quyển “Truyện ký Thai nhi” của bà Gilbert, ở lời tựa của bác sĩ Carrel, chúng ta thấy từ xưa kia phương Tây hoàn toàn không biết về thai nhi là gì; cho đến thế kỷ 17 có Đồ-ngu-Ra-Phu (phiên âm) cho rằng con người là do trứng sinh ra, đến sau nhờ có Ryu-en-phu-ru-Ku (phiên âm) mới phát hiện ra tinh trùng; thế kỷ 19 mới biết được tinh trùng và noãn tử kết hợp mà sinh ra con người. Trong vòng một trăm năm khoa học phương Tây mới phát minh được nhiều việc về việc phát sinh của con người đem ra thông báo. Dưới đây hãy xem. Từ mấy triệu năm tại phương Đông có một nền giáo dục đặc biệt cho các bà mẹ tương lai tức nền thai giáo. Có dịp tôi sẽ nói về thai giáo là một nền giáo dục rất sâu sắc và thực tiễn có cơ sở từ ngày người ta chưa có ý thức về nguyên tử kia. Nhân đây tôi sẽ cho các bạn rõ về giải phẫu học. Tất cả chi tiết giải phẫu học đều do quyển sách của bà Gilbert lấy ra, nhưng thiết tưởng cũng nên sửa đổi đôi điểm, vì rằng từ ngày có quyển sách này thì ý thức về nguyên tử đã khác hẳn rồi. Tuy vậy trong khi viết tập sách nhỏ này trên chiếc tàu tôi quá giang đây chẳng có sách nào tham khảo cả. Bây giờ khởi đầu từ não tử và tinh trùng kết hợp nhau đem ra bàn. Còn từ đó về trước, là một vấn đề quan trọng sẽ có dịp đề cập riêng nơi khác. Người đàn bà bắt đầu từ ngày có kinh nguyệt, cứ mỗi tháng lại có một não tử từ trong não bào rụng ra. Như thế nghĩa là người đàn bà trong trọn một đời người sinh ra được 400 đến 500 noãn tử cho đến năm 49 tuổi là khi hết kinh nguyệt. Nếu đem các noãn tử ấy nuôi trong một lò ấp nhân tạo, một người đàn bà có thể có được 500 đứa con; nhưng người đàn bà phải chịu thai nghén khoảng 9 tháng vì thế trọn đời chỉ có thể có được 35 đứa con, nếu tính mỗi năm một đứa. Còn lại mấy trăm noãn tử thừa lại thành ra loại trứng vô dụng. Đến người đàn ông, mỗi lần sản xuất ra hàng trăm triệu tinh trùng, cho đến ngoài 60 tuổi vẫn còn sản xuất được tinh trùng mãi. Ví dụ đem tinh trùng của một người đàn ông, bỏ vào một cái bình đủ hơi ấm để nuôi dưỡng, có thể làm cho tất cả đàn bà trong thế giới đều thụ thai. Trong các trại chăn nuôi, người ta chỉ để một con bò u, vì nó loạn bạo, tham ăn, chẳng ích gì bằng các loại bò cái và bò đực thường. Lắm lúc người ta chẳng cần nuôi những loại bò u ấy, chỉ dùng loại tinh trùng nhân tạo để là cho bò cái có chửa. Nếu đem phương pháp này áp dụng vào cho loài người là loại loạn bạo tham ăn như bò u kia, có lẽ chắc chắn chiến tranh và sự chém giết nhau sẽ giảm bớt được phần nào… Các loài cá, con cá mái đẻ một lần đến mấy triệu trứng, nhưng đa số trứng ấy đều bị loài cá khác và các loại sinh vật khác ăn phá đi hết. Có lẽ tạo hoá cũng thấy rõ cảnh ấy, cho nên chỉ để số còn lại có hạn vừa đủ cho chủng tộc loài người và loài cá tồn tại. ở hình A, đấy là một noãn tử của con người gần thành thục. Những tế bào nhỏ xung quanh tức là tế bào dinh dưỡng. Hình của noãn tử tròn, nghĩa là Dương. Hình cảu tinh trùng mảnh, dài là âm. Nói về vó hình thì trái lại, noãn tử nhỏ, còn tinh trùng lớn hơn. Xem noãn tử đi xuống, còn tinh trùng đi lên, thế đủ rõ một bên Âm, một bên Dương. Theo vô song nguyên lý thì noãn tử Dương của đàn bà Âm, còn tinh trùng Âm của đàn ông Dương (Âm sinh ra Dương, Dương sinh ra Âm). Đàn bà Âm thu hút cái gì có phần Dương, rồi lại bài tiết những cái gì Dương, sau khi đã lợi dụng đầy đủ, vì bản thể của đàn bà là Âm. Noãn tử và tinh trùng là vật bài tiết của tự nhiên, vì thế chứa trử lại thành ra vô ích. Chỗ hoang phí vô số tinh trùng và noãn tử có thể so sánh với chỗ hoang phí về đạn dược của người Tây phương, trái lại cách hoang phí về noãn tử và tinh trùng nhằm vào mục đích sáng tạo ra hàng năm được mấy triệu con người. Tất cả những điều của con người gọi là ức chế, cấm chỉ (như pháp luật, đạo đức) giáo dục và mệnh lệnh… đều hoàn toàn vô ích và có hại chẳng khác nào việc hoang phí đạn dược của người Mỹ. Tuy vậy việc hoang phí con người có thể quy định trong sự hoang phí của tự nhiên, vì rằng con người do tự nhiên sáng tạo. Chính vì thế mà chúng ta trước hết cần phải có một năng lực phán đoán căn bản và chính xác để giải quyết vấn đề này. Kẻ nào không có một năng lực phán đoán tối cáo không thể hiểu thấu các vấn đề này, ví dụ như tất thảy những điều vô dụng do con người đã làm, hoặc chỗ hoang phí của noãn tử và tinh trùng chẳng hạn. Nếu người ta có được một năng lực phán đoán tối cao cởi mở, tất nhiên có thể giải quyết được tất cả, ví dụ sinh sản học, vật lý học… chẳng hạn. Tại phương Đông, người ta gọi lực phán đoán tối cao ấy là Trật tự vũ trụ hoặc là Đạo. Tôi cho rằng năng lực phán đoán của kẻ nào thấu rõ được “trật tự của vũ trụ hoặc vô song nguyên lý” tứclà lực phán đoán tối cao. Tôi chia năng lực phán đoán ra làm 7 giai đoạn . Nhưng mỗi người muốn sắp theo thứ tự nào tuỳ ý. Mỗi người tuỳ theo cảnh ngộ mình mà ở vào giai đoạn thích ứng. Mỗi một giai đoạn đều có một quyền lợi riêng biệt. Dầu sao, mỗi giai đoạn đều có một năng lực phán đoán riêng của giai đoạn ấy… Chỉ duy kẻ nào có một năng lực phán đoán tối cao tức là năng lực phán đoán số 7 mới có được cảnh gọi là hạnh phúc chân chính. Kẻ đã có được năng lực phán đoán số 7 đi tìm được cảnh giới thứ 7và đi vào đó một cách vô cùng tự nhiên. Marx đã thấy được cảnh thế giới thứ 6 (kinh tế). Rousseau có được năng lực phán đoán thứ 3. Christophe Colombo có được năng lực phán đoán thứ 2. Bởi vậy bọn trộm cướp sát nhân, dù dối trá cũng đều nhắm những hành vi chính trực mà làm. Tất thảy kẻ đã rõ được thế giới riêng của mình, họ sẽ nhắm vào thế giới ở giai đoạn trên mà đi tới. Kẻ không biết được như thế thật là vô ích. Tuy vậy, nếu đã biết rõ được như thế, sẽ thấy được một thế giới ở giai đoạn trên nữa. Tóm lại, kẻ ấy chẳng những hưởng được cảnh hạnh phúc của thế giới hiện tại mình đang ở mà còn thấy được cảnh vui thú khoái thích của thế giới mình là một cảnh tạm thời trong chốc lát. Chương IV Sinh mệnh lực bị phân liệt Noãn tử cứ mỗi tháng lại rụng khỏi noãn bào một hột. Khi rúc vào luân noãn quản, gặp được tinh trùng rồi kết hợp nhau, gặp được tinh trùng rồi kết hợp nhau, trong ba ngày sau lại rúc vào tử cung, thế là thụ thai. Tuy thế sinh sản học không hiểu được điều này: 1. Noãn tử và tinh trùng kết hợp nhau bằng cách nào? 2. Tại sao tinh trùng đi mỗi giờ được mười phân, còn noãn tử phải mất đến ba ngày mới vượt qua một khoảng đường như thế? 3. Tại sao trong số hàng triệu triệu tinh trùng, thế mà chỉ có một con kết hợp với noãn tử… Những vấn đề ấy chưa giải quyết được. Nhưng chính là những vấn đề rất thích thú trong khi nhìn qua ánh sáng của vô song nguyên lý. Sau khi noãn tử và tinh trùng đã kết hợp với nhau rồi tức thành ra một tế bào. Nhưng độ trong một tháng lại thành một loại dòi dài 6 ly, có đầu, khúc mình, đuôi và có tất cả các cơ quan thiết yếu cho một con người. Noãn tử đã thụ tinh rồi thành ra gấp bội, gấp tám, gấp mười sáu… gấp hàng mấy triệu triệu lần… Tất cả các động vật đều nhờ phân bào mà lớn lên, và hiện tượng sinh mệnh ấy vẫn vĩnh viễn tiếp tục. Bác sĩ Alexis Carrel nghiên cứu về mầm tâm tạng của con gà, phát kiến được rằng nếu người ta bồi dưỡng cái mầm theo phương pháp riêng biệt thích đáng thì trạng thái cảu tâm tạng ấy vẫn luôn luôn lớn lên vô hạn. Nhờ thế mà ông được giải thưởng Nobel. Sự phân bào này thật là kinh khủng. Nếu sức phân bào này đình chỉ hoặc phóng nhiệm vô hạn thế là chết, nghĩa là nếu sức phân liệt bị sức phản đối lại, cố định, bất động, áp bức, đánh bại, hoặc sức phản hồi này bị đánh bại. Sự thật thì thế giới tế bào là biện chứng pháp, tức là thế giới gồm có hai lực tương đối, đối lập, thượng hạ tiêu trưởng, hữu hạn vô thường. Đây chính là cơ sở cấu tạo của hiện tượng sinh mệnh. Nào cảm giác, cảm tình, hành động, khái niệm, tư tưởng, năng lực phán đoán đều tuỳ thuộc vào cơ sở cấu tạo này. Vì thế tất cả moi cấu tạo đều là biện chứng pháp, ví dụ: lạnh nóng, hỷ nộ, yêu ghét, khoái bất khoái, hoà chiến, vật tâm, thiện ác, tự do bất tự do, hạnh bất hạnh, chính tà v.v… ch nên tìm cái tuyệt đối (như hoà bình, chính nghĩa, thiện, hạnh phúc) trong thế giới tương đối này không thể nào có được, chỉ là việc vô ích. Là vì hoà bình tuyệt đối, chính nghĩa tuyệt đối, tự do và hạnh phúc vĩnh viễn chẳng bao giờ có được trong chỗ tương đối, hữu hạn, vô thường… Con người không thể nào tìm rõ thấu được chỗ bí mật này trong ba tỷ năm sinh lý học ở trong bào thai của bà mẹ được. Ngày xưa ở phương Đông có đôi kẻ phát kiến được chỗ bí mật ấy, lại không đem ra bày dạy cho mọi người. Họ làm như thế là rất hợp lẽ. Là vì việc ấy tuyệt nhiên chẳng phải việc đem ra dạy bày cho ai được. Kẻ nào muốn hiểu thấu chỗ bí mật ấy chỉ có tự mình phát kiến lấy. Càng kỳ quái nữa là nếu đem dạy bày, chẳng một ai hiểu thấu cả. Tùng lai mọi người đều biết có cái tuyệt đối, nhưng ra sức tìm mà chẳng hiểu thấu, là vì năng lực phán đoán của chúng ta bị che bịt quá sức… Chương V Sức phân chia chính là công việc của viễn tâm lực Cái tế bào tối sơ này vẫn tiếp tục phân bào vô hạn. Nhưng nó vẫn tuỳ theo sự tình hoàn cảnh mà thay đổi phương hướng và hình thức mãi. Cuối cùng nó dừng lại một chỗ. Khi ở trong bào thai của mẹ, con người lớn lên gấp 3 tỷ hoặc năm tỷ lần trong 280 ngày. Rồi ra đời, vì rằng sức phân liệt còn có thể hơn nữa. Ra đời nó còn lớn thêm hai chục lần nữa, nghĩa là lớn hơn xấp 60 tỷ hoặc 100 tỷ lần so với cái tế bào lúc ban đầu, thế rồi sức lớn ấy bị đình chỉ. Đó là điểm cuối cùng của thế giới hữu hạn. Nếu từ lúc ấy trong nhục thể còn có bộ phận nào tiếp tục lớn thêm nữa (nghĩa là tiếp tục phân chia), bộ phận ấy sẽ thành ra một bệnh mệnh danh là ung thư hoặc là trở thành những tính tình khủng khiếp như: ngạo mạn, âm hiểm, keo kiết, ti tiện, biết bao bệnh về tinh thần, bạo lực, hoặc hành động tự sát khiến cho thân thể tiêu tan. Nhưng nếu sức phân chia của tế bào đầu tiên của con người, nếu sức ly tâm lực phân chia này chuyển hướng về mặt tinh thần, sẽ ung dung tiến tới thế giới tuyệt đối và vĩnh viễn với một sức lực vô song, kết thành phán đoán lực tối cao. Cái đã làm cho ra ung thư, cái đã làm cho sức phân chia bành chướng đình chỉ lại, cái đã chuyển hướng và làm cho sinh trưởng lên tức là hai sức âm dương. Âm là sức phân chia bành chướng, Dương là sức thu rút, nó có đủ thể lực dẫn dắt biến chuyển đi các phương hướng. Bất luận kẻ nào đã nắm vững tay lái của hai sức lực Âm và Dương này trong tay đều có thể điều khiển qua tả qua hữu hoặc làm cho phân chia bành chướng hoặc thu rút gì tuỳ ý. Sức ly tâm lực và sức cầu tâm lực tức là nguyên nhân của sự sinh trưởng cảu chúng ta trong thế giới hữu hạn. Trong cơ thể, trong thực phẩm, trong hoàn cảnh sinh hoạt, bao giờ hai sức lực ấy cũng đều có vô số hình thái khác nhau. Nếu chúng ta điều khiển được hai sức căn bản này trong thực phẩm và trong cảnh sinh hoạt hàng ngày của chúng ta, chúng ta muốn làm gì cũng được cả. Nếu ta nhìn nhận sự thật này như là một quan niệm luận thần bí hoặc một duy vật luận hiển nhiên, người ta sẽ xáo lộn cả thế giới vật chất và thế giới tinh thần làm một thật là điều đáng sợ. Vì thế trước hết chúng ta bàn về vấn đề sản sinh học. Chương VI Tử cung bị noãn tử phá vỡ Tế bào thụ tinh đầu tiên bị phân đôi ra nhiều lần, như hình quả dâu tây. Sau mấy ngày trứng chạy xuống tử cung, các tế bào ở lớp ngoài mặt của quả dâu tây ấy tức tế bào dinh dưỡng được sắp theo một lớp, còn phía giữa thì trống rỗng. Những tế bào chính giữa kết hợp lại một khúm rất nhỏ giống như hòn đảo. Không cần nói các bạn cũng biết các tế bào xung quanh ấy vì quá Âm nên bao quanh thành một lớp phía ngoài. Những tế bào làm thành hòn đảo chính giữa tức là tế bào Dương. Chỗ trưởng thành của sinh mệnh, chỗ gia tăng của khối lượng tế bào, chỗ phân bào tức là Âm; theo dịch lý Âm bao giờ cũng ở trong, chẳng bao giờ có tuyệt đối 100% Âm, cũng chẳng bao giờ có tuyệt đối 100% Dương. Âm và Dương chẳng khác nào nam châm. Bởi vậy cắt ra một chỗ nào chẳng hạn, đều thấy có lưỡng cực. Cái gọi là phân bào kia cũng chẳng khác gì hơn là Âm và Dương phân ra. Lớp ngoài biểu diện tức lớp dinh dưỡng, phần ở trong tức phôi thai con người, tức là mầm thai nhi (hình C, D, E). Trong khoảng 10 ngày, noãn tử rúc vào trong tử cung, xoi ra một cái lỗ, nhưng không tay chân gì cả. a) Làm thế nào noãn tử rúc vào trong tử cung được? Khi bà Gilbert chưa viết ra quyển sách của bà thì chưa ai biết. Nay thì dĩ nhiên đã hiểu rồi. Nói đến vấn đề này, một điều thú vị nhất phải chăng ta thấy rằng tự thân vấn đề chính là chỗ giải đáp cho vấn đề rồi? (những tế bào lăn tăn tối sơ của con người, về biểu hiện thì cực Âm, cho nên bị phần tử cung cực Dương hút mạnh). Bà Gilbert bảo rằng người ta chẳng hiểu tại sao lớp tường da bọc tử cung là nơi noãn tử rúc vào lại chảy ra thành nước. Cái đó thật đương nhiên; Âm là ly tâm lực, xuyên vào trong lớp tường da bọc của tử cung làm cho lớp cân nhục phải chảy ra (hiệu quả của viễn tâm lực, phân ly, phá hoại). Noãn tử dần dần làm cho chảy cân nhục của tử cung ra, càng xuyên vào tử cung, rồi làm cho các huyết quản phải xé rách. Huyết của huyết quản ấy dùng để nuôi noãn tử. Quyển sách của bà Gilbert nói: “Trước khi noãn tử rúc vào trong tử cung, phá tan huyết quản, nghĩa là khi noãn tử đã thụ tinh, noãn tử đi dần xuống, ngoài ra mỗi tháng một lần trong lúc noãn tử từ noãn bào rụng ra đi xuống, huyết sinh ra nhiều, nhiệt độ lên cao phải phá tan huyết quản”. Sự thật thì vậy, nhưng chỗ căn bản suy nghiệm về hiện tượng thì hoàn toàn không đúng. Các bạn chắc đã biết từ lâu rồi: nếu noãn tử không được thụ tinh, phải bị bài tiết, nếu tử cung bị đẫm huyết, nếu nhiệt độ lên cao, nếu có kinh nguyệt, thế nghĩa là làm cho các nguyên tố quá Dương có dịp bị trục xuất ra khỏi tử cung mỗi tháng một lần để giữ cho được trạng thái quân bình Âm từ lâu nay. Vì thế nên noãn tử được thụ tinh rúc vào tử cung trước mấy ngày có kinh nguyệt, lớp da bọc của tử cung vốn rất dương liền thu hút lấy rất chóng lớn hơn trước (Noãn tử không đến, thế là tử cung sung huyết phải phóng xuất ra thành kinh nguyệt). Sau một thời gian, tất cả cái gì bao bọc xung quanh phôi thai trở thành khu vực của phôi thai này: cái ấy người ta gọi là nhau thai. Nhau thai có sợi dây nối vào thai nhi, tức dây rốn. Bao nhiêu những thức ăn, dưỡng khí và nước của bà mẹ ăn uống đều vào bào thai, do nhau thai lọc sạch và nhờ huyết quản của dây rốn đưa vào thai nhi. Thai nhi dần dần lớn lên trong chín tháng như một loại ký sinh trùng của bà mẹ. Những bí ẩn về ảnh hưởng của mặt trăng lên quả đất và con người Từ ngàn xưa, các nhà chiêm tinh, các nhà sử học, các nhà triết học đều để tâm nghiên cứu về sự liên quan giữa các pha của mặt trăng và các sinh vật sống trên quả đất cũng như các hiện tượng trên qủa đất. Ngày nay, khoa học đã chứng minh được sự liên quan ấy, dù rằng mặt trăng cách xa quả đất chúng ta ở khoảng 384 400 km. Từ lâu con người đã đặt ra tuần lễ. Tuần lễ quả thật là thần diệu, nó có thể xem như là1/4 phần của chu kỳ giao hội quay của mặt trăng hay của tháng. Mặt trăng bao gồm bốn pha chính, đó là trăng non, trăng đầu, trăng rằm và trăng cuối tháng. Điều kỳ lạ mà khoa nội tiết học đã khám phá mới đây là một số chất nội tiết trong cơ thể thường thay đổi theo nhịp của tuần lễ một cách hết sức chặt chẽ. Sự liên quan ấy theo các nhà nghiên cứu xưa và nay về vấn đề này đều quy vào mặt trăng. Mặt trăng có tác dụng thu hút (hấp lực) mạnh đối với quả đất hơn mặt trời vì mặt trăng gần quả đất hơn. Đối với thủy triều ở biển thì chính mặt trăng đã gây nên thủy triều dâng cao. Sức hút ấy chiếm 70 %(còn mặt trời chỉ 30% thôi). Ngày nay các nhà khoa học đã phải công nhận rằng quả thật là có nhịp hàng tháng hoặc sự tác động hàng tháng lên cơ thể sinh vật. ở con người, phụ nữ là dễ thấy hơn cả. Từ năm 1890, một vị thầy thuốc dưới thời Nga Hoàng đã phát hiện ra rằng cơ thể phụ nữ có liên hệ mật thiết với mặt trăng và theo chu kỳ hàng tháng. Một thí dụ điển hình là chu kỳ kinh nguyệt xảy ra mỗi tháng ở cơ thể người phụ nữ và chu kỳ này cứ lập đi lập lại tháng này sang tháng nọ. Khi công nhận rằng có nhịp hàng tháng tức là công nhận có sự liên quan ảnh hưởng của mặt trăng lên cơ thể con người. Năm 1959, hai bác sĩ Hoa Kỳ là Manaker A và ManakerV. đã đưa ra nhận xét rằng những ngày trăng tròn thường phù hợp với sự rụng trứng, sự thụ thai. Hai ông đã theo dõi và phân tích số liêu ngày tháng từ 250 000 ca sinh nở để đi đến kết luận ấy. Năm 1973, các nhà nghiên cứu khác của Hoa Kỳ cũng tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, và để kết quả được khá chính xác hơn, họ phân tích, nghiên cứu và theo dõi hơn nửa triệu ca sinh nở khác ở Hoa Kỳ. Kết luận sau cùng đưa ra là “sự rụng trứng phần lớn trùng vào lúc trăng tròn”. Mới đây, một số bác sĩ ở tiểu bang Florida đã khám phá ra rằng những ca mổ trùng vào ngày trăng rằm (trăng tròn) thường chảy máu nhiều sau mỗi lần mổ. Xác suất thống kê cho thấy trường hợp này chiếm tỷ lệ rất cao, đến 82%. Nhà khoa học Pháp là Liber và Sherin đã khẳng định rằng: các sinh vật sống trong môi trường luôn luôn bị môi trường tác động nhưng các sinh vật ấy còn bị mặt trăng (và cả mặt trời) tác động lên nữa. ở trẻ sơ sinh, khi chúng bú sữa xong nếu ảnh hưởng của lực tác đụng của mặt trăng lên quả đất mạnh thì dễ gây nên hiện tượng “ọc sữa” vì sức hút của mặt trăng sẽ nâng, hút sữa trong dạ dày đứa bé lên giống như tạo sức hút lên nước biển vậy. Hiện tượng “triều lên”, “triều xuống” ở quả đất ngày nay ai cũng biết là do ảnh hưởng sức hút của mặt trăng gây nên. Riêng về sự ion hoá khí quyển cũng như hiện tượng điện từ ngày nay đã cho thấy có sự đổi thaytuỳ theo pha của mặt trăng. ảnh hưởng của mặt trăng lên quả đất và con người nay đã thấy rõ, nhưng điều làm mọi người lo ngại nhất ấy là vấn đề tội ác. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vũ trụ đã cho rằng: sự hung bạo ở con người thường phát sinh mạnh hơn do tác động của một số hành tinh trong vũ trụ lên cơ thể các sinh vật trên quả đất. Theo A.Liber thì cơ thể con người có đến 80% là nước, khi trăng tròn, lực tác động mạnh của mặt trăng lên lượng nước ấy làm xáo trộn mọi hoạt động sinh lý vả tâm tính ở con người. Vì thế sự suy nghĩ, cân nhắc bị lệch lạc, dễ gây ra những hành động sai lầm. Riêng về não bộ, dịch não tuỷ cũng bị sức hút của mặt trăng tác động khiến cho trung tâm thần kinh dễ bị tổn thương sai lệch. Từ lâu các nhà viết tiểu thuyết thường mô tả những cảnh rùng rợn dưới ánh trăng, có thể đây là một sự trùng hợp. Tuy nhiên qua sự tính toán của cảnh sát Nhật và ở Hoa Kỳ thì bạo lực và tội ác thường xảy ra vào những đêm trăng tròn. Các dữ kiện khoa học cho thấy việc nghiên cứu những ảnh hưởng chiêm tinh học này (thông qua sự ảnh hưởng của mặt trăng, mặt trời….) rất đáng được các nhà thực vật học cũng như động vật học quan tâm. Hàng ngàn năm nay con người đã nhìn thấy ảnh hưởng của kỳ trăng khuyết và trăng tròn đến cuộc sống của con người và thực vật. Người nguyên thuỷ làm lễ thờ cúng mặt trăng vào thời điểm đó họ tổ chức lễ hội linh đình và nhảy múa cuồng nhiệt. Nhiều điều và những hiện tượng siêu nhiên được coi là có liên quan tới ngày này, hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều nông dân chỉ gieo hạt vào những ngày trăng tròn. Một giáo viên người Mỹ đã trình bày những bằng chứng qua các thí nghiệm về ảnh hưởng rõ rệt của mỗi tuần trăng không những đối với sự phắt triển của cây cỏ mà còn với sự mắn đẻ của các loài gia súc nữa. ở Tích lan, các nhà chiêm tinh bảo đảm với tôi là nếu một hột xoài được trồng đúng lúc có sự phối hợp hiếm có nào đó của các ảnh hưởng chiêm tinh học (các hành tinh chung quanh chúng ta), hột xoài sẽ mọc thành cây nhanh và sẽ có trái ngay khi chủ mới có ba hay bốn cái lá trên cây xoài non. Một số hiện tượng sinh học hấp dẫn cũng có thể giải thích bằng chiêm tinh học. Ví dụ, các nhà nghiên cứu về biển tìm thấy một giống trai có hai mùa sinh sản mỗi năm vào kỳ trăng tròn tháng năm và trăng tròn tháng mười một. Một giống san hô ở úc Châu có ba giai đoạn sinh sản, giai đoạn thứ nhất vào lúc trăng non (thượng tuần) của các tháng từ tháng mười hai đến tháng tư, giai đoạn thứ nhì vào lúc trăng tròn của tháng bảy và tháng tám, giai đoạn thứ ba vào kỳ trăng mới chuyển sang tròn của tháng năm và sáu. Loài giun biển Palolo, được người dân đảo Samoa và đảo Fỵi dùng làm thực phẩm, rời quê hương của chúng trong các rặng san hô bơi vào bờ của hai đảo này thành những đàn đông vô kể hai lần mỗi năm, trong tháng mười và trong tháng mười một, và trong hai ngàyliền, “vào bình minh ngày có trăng bán nguyệt hạ tuần và vào bình minh ngày hôm trước.” Trong năm nhuận âm lịch loài giun này cũng biết điều tiết cho đúng tháng dương lịch, và các nhà nghiên cứu không thể giải thích được những điều kỳ lạ này. Mặt trăng cũng có ảnh hưởng đối với các sinh vật biển khác như loài cá vùng biển sâu đi vào vùng bờ biển cạn hay vùng nước ngọt ở cửa sông và trong sông để sinh sản theo chu kỳ trăng. Chu kỳ sống của các loài động vật khác cũng cho thấy co ảnh hưởng chiêm tinh học. Mỗi năm vào ngày mười chín tháng ba, một loài chim én ở California bay về tổ sau thời gian trú đông ở miền nam, và chúng sẽ bay đi vào ngày hai mươi ba tháng mười. Loài người và gia súc ít chịu ảnh hưởng hơn các loài thú sống tự nhiên đối với những điều kiện bên ngoài. Sinh vật càng hạ đẳng và môi trường càng sơ khai, như loài trai ngọc,san hô và giun biển, thì sự đáp ứng càng trực tiếp đối với các lực chiêm tinh học. Loài người này nay không nghi ngờ gì hiệu ứng cuả các vết đen trên mặt trời đối với từ trường và khí hậu trái đất, hay sức hút của mặt trăng gây ra thủy triều và có ảnh hưởng tới mặt đất. Người Phương Đông, cụ thể là người Việt Nam ta đã từ lâu kết luận được sự ảnh hưởng của mặt trăng và chu kỳ con nước tới việc làm ăn và sinh sản thế nào qua lời ca dao: Phải ai buôn bán trăm nghề Phải ngày con nước đi về tay không Phải ai giao hợp vợ chồng Phải ngày con nước khó lòng nuôi con. Hay trong câu sau cho thấy việc sinh sản của người bị kỳ trăng tác động sẽ như thế nào: Trai mùng một, gái hôm rằm Nuôi thì nuôi vậy nhưng căm dạ này. Nghĩa là những cô gái chàng trai nào sinh vào ngày mùng một hoặc chính vào ngày rằm thì thường là ghê gớm, đáo để và khó nuôi ! Theo sự nghiên cứu của giáo sư OHSAWA thì những nhà cách mạng hay sinh vào tháng 5. Còn những nhà triết học, tư tưởng hay sinh vào tháng 10. Người Roman cổ xưa biết rõ rằng bệnh điên thường gây ra bởi mặt trăng “lunancy” (chứng điên rồ) xuất xứ từ tiếng Latinh “luna” (mặt trăng). Các nhà Yoga đã sớm khám phá ra những ngày này gọi là ngày Ekadashi (ba ngày trước khi trăng khuyết và trăng tròn, tức là 3 ngày trước rằm và mùng một), và cho rằng người ta dễ bị rối loạn cảm xúc vào những ngày này. Các nhà khoa học Anh chỉ ra rằng trong tháng có hai ngày mà sự rung động điện tử của cơ thể thay đổi tận gốc, đó là thời điểm trước trăng tròn và trước trăng mọc ba ngày, hai thời điểm này trong tháng có sự khác biệt rõ rệt về điện lực giữa sự dao động điện tử ở rốn và não. Các nhà khoa học thắc mắc tại sao hai ngày đặc biệt đó lại có sự thay đổi như vậy. Nhưng những bậc thầy Yoga đã hiểu rõ ý nghĩa của những ngày này và thường nhịn ăn vào thời gian đó. Nhiều người trong suốt giai đoạn này có thể bị kích thích, bồn chồn, bực tức, còn những người nhịn ăn không uống nước trong ngày đó sẽ thấy rằng trí não của họ trở lại thăng bằng và bình tĩnh. Có lần tôi được nghe một bác giỏi về địa lý nhất Hà Nội hiện đã quá cố cũng là người am hiểu về khoa tử vi - chiêm tinh học, tên là bác Nguyễn Trung Quốc nhà ở 58 phố Hà Trung Hà Nội nói chuyện, tôi hỏi vì sao phải xem ngày cưới thì bác trả lời là xem ngày giờ cưới để khỏi bị những ảnh hưởng xấu của các hành tinh chiếu đến làm ảnh hưởng nhiều mặt đến những người nhạy cảm…Nhất là các cụ nhìn xa trông rộng còn tính đến những việc tránh cho ra đời các em bé mà cha mẹ chúng có thể không biết đến những ngày như ngày Ekadashi chẳng hạn. Và ngay cả chính cha mẹ đứa bé cũng bị những ảnh hưởng của các hành tinh trong hệ mặt trời tác động đến… Như vậy con người không những bị ảnh hưởng của đất đai khí hậu (thân thổ bất nhị) môi trường mà còn bị ảnh hưởng của các hành tinh … chính vì thế mà người Phương Đông đã tuyên bố con người chính là tiểu vũ trụ. Điều này làm cho tôi nhớ đến quyển “Nhất Nguyên Thế Giới” của Vivekanada có nói đến việc này: “…Bởi thế cho nên dân tộc ta rất thận trọng về chuyện ăn uống. Có lẽ những lý do nguyên thuỷ đã bị quên mất cũng như về chuyện hôn nhân. Dẫu điều này ở ngoài đề nhưng tôi cũng có thể lấy làm thí dụ. Nếu có dịp tôi sẽ thưa cùng quí vị về mọi vấn đề này nhưng ngay bây giờ xin nói rằng những ý niệm làm căn bản hệ thống hôn nhân ở xứ ta là những cái độc nhất có thể đưa tới một văn minh chân chính. Không thể có những ý niệm khác. Nếu bên nam hay bên nữ được tự do chọn bất cứ kẻ nào làm chồng hay vợ, nếu sở thích cá nhân, sự thoả mãn bản năng thú vật, được tự do lưu hành trong xã hội thì những hậu quả chắc chắn phải tai hại vì sẽ sinh ra những đứa trẻ hung ác, xấu xa, ma quái. Trong mọi xứ, người ta một mặt tăng thêm cảnh sát để canh giữ chúng. Không thể diệt tội lỗi bằng cách đó; phải làm cho nó không sinh ra. Mà khi con người sống trong xã hội, mỗi cuộc hôn nhân hẳn có những ảnh hưởng đến tất cả tập thể. Như thế xã hội có thẩm quyền ra lệnh cho bạn được lấy ai mà không được lấy ai. Chính những ý niệm đẹp đẽ thuộc loại này đã làm nền tảng hệ thống hôn nhân ở xứ ta; đó là cái người ta gọi là xem cung số của đôi lứa trước khi quyết định. Tôi cũng xin nhắc qua rằng một đứa trẻ sinh ra từ dâm dục không được coi là thanh quí. Chỉ được coi là thanh quí đứa trẻ nào được hoài thai (mang thai) và sinh ra theo đúng phép Vệ Đà. Trong mọi xứ, người ta sản xuất càng ngày càng ít những đứa trẻ con thanh quí để kết quả là đống tội lỗi mênh mông mà chúng ta gọi là thời mạt kiếp này.” Tôi cũng ngạc nhiên thú vị khi biết tin rằng quốc gia ấn Độ là quốc gia có tỷ lệ li hôn thấp nhất thế giới và đây cũng chính là quốc gia có truyền thống lâu đời về khoa chiêm tinh học. Không như giới khoa học, nhiều triết gia và thi sĩ hàng đầu của Tây Phương như Roger Bacon (triết gia và khoa học gia người Anh, thế kỷ mười ba) và Shakespeare (kịch gia và thi sĩ người Anh. 1564-1616) đã rất quan tâm tới chiêm tinh học. Thiên Chúa Giáo cũng không tránh được môn khoa học huyền bí này, như chuyện ba nhà thông thái Đông Phương được ngôi sao hướng dẫn tới Bethlehem để chiêm bái Chúa Hài Đồng cho thấy. Khi Thái Tử Tất Đạt Đa mới ra đời, các nhà chiêm tinh đã lập lá số tử vi cho ngài rồi tiên đoán ngài sẽ trở thành một vị Chuyển Luân Vương, tức vị vua lớn nhất thế gian, hoặc một vị Phật. Và trên thân thể của ngài người ta thấy có ba mươi hai tướng tốt. Là những dấu hiệu có tính cách chiêm tinh học và đã được tích luỹ từ nhiều kiếp trước. Hiện nay, vấn đề liên quan giữa mặt trăng (chính là khởi đầu của việc nghiên cứu sâu hơn về khoa chiêm tinh) và con người trong vấn đề tội ác và bạo lực vẫn được các nhà khoa học và tâm lý nghiên cứu. Các yếu tố của vũ trụ, trong đó có mặt trăng đã biến đổi theo nhịp, có ảnh hưởng đến chu trình hàng tháng trên cơ thể mỗi con người chúng ta. Từ đó, con người có thể phòng ngừa được các nguyên nhân khởi đầu của bệnh tật, tổ chức được sinh hoạt và đời sống hợp lý và dự báo luôn tình trạng tốt lành hay xấu nhất của cơ thể… để cho ra đời như bé con thanh quí. Chúng tôi theo dõi những em bé của những cặp vợ chồng biết đến phương pháp OHSAWA và các cặp vợ chồng có ăn chay tu thiền trong gần hai chục năm qua thì đều có một kết quả tương tự: các cháu bé đều thông minh, khoẻ mạnh, đẹp đẽ và ngoan hơn hẳn những cháu bé sinh trước khi cha mẹ biết đến những phương pháp này. Chương VII Nhị phân pháp - Nhị tấn pháp - Chữ “Nhân” Bây giờ chúng ta quan sát cái đảo nhỏ của phôi thai trong quả dâu tây. Cái đảo nhỏ ấy càng ngày càng lớn lên, rồi lại phân ra hai nhóm. Trong mỗi nhóm này lại thành một cái hang nhỏ (không động). Nghĩa là thành ra hai cái đãy dính chung nối liền với nhau vào một bộ phận trung ương thành ra con người. Hai cái đãy phía trên và phía dưới đối với thai nhi là tối thiết, nhưng đến khi sinh ra rồi thì thành ra vô dụng và bỏ đi. Từ khi noãn tử được thụ tinh cho đến ngày thành ra thai nhi vẫn phân bào liên tục, kể ra thật huyền bí thay. Khi đã thành ra quả dâu tây rồi, nó đã phân bào thành ra nội bộ và ngoại bộ. Rồi cái đảo ở chính giữa lại phân bào ra thành hai cái đãy. Rõ huyền bí, vì cách nhị phân pháp này cứ thế mãi cho đến kỳ cùng. Nó là hình thức sinh trưởng cộng thông của hiện tượng sinh mệnh, hiện tượng con người, hiện tượng vật lý. Nó lúc nào cũng có vẻ đối lập thành hai với cảm giác, cảm tình, tư tưởng và hành động, phán đoán và hồi đáp. Thiên địa, huyền hoàng, đông tây, nam bắc, tiền hậu… nội ngoại, thuỷ chung, cổ kim, nhật dạ, hàn thử, minh ám, nam nữ, ly hợp, bi hỷ, đều thành hai phía tương phản. Bởi vậy một vũ trụ lại phân ra làm không gian và thời gian, rồi không gian và thời gian lại phân ra thành hai phần. Thế rồi nhị phân pháp ấy triển khai thành ra vô hạn. Vì thế nếu nghiên cứu về sinh sản học, người ta đều hiểu rằng tất thảy hiện tượng đều thuộc vào nhị phân pháp. Cho nên “hai đứa con sinh đôi” này tương sinh, tương khắc để thành ra Một và nhân thể diễn ra biết bao bi hỷ kịch. Tượng hình chữ “nhân” (người) - cách tượng hình chữ “nhân” (người) rõ thật là một cái tiêu biểu cho nhị phân pháp này: nam nữ, Âm Dương. Nguyên tắc nhị phân pháp thấy rõ trong hình của chữ này. Hai hình tương cận nhau, tương hỗ nhau, tương trợ nhau, mỗi bên mọc thẳng lên một hướng tuỳ thích. Giá phỏng mỗi bên đâm ngang cắt đôi qua phần một bên khác, thì chính mình cũng bị cắt ngang, sẽ thành ra chữ X, chia lìa nhau, tự xé ra, tự hoại lấy, thành ra bốn mảnh tức là tiêu biểu cho cái chết. Nên bây giờ đem hai số dài tiêu biểu cho Âm và Dương nằm dọc (║) sẽ thành ra hai đường song song nhau và có nghĩa là ai sầu vô hạn (sự thật, tình phu phụ, giao hữu và xã hôi tổ chức hiện nay là thế). Nếu đem hai sổ ấy để nằm ngang lại (=) thế là tỏ ra sự nặng nề, yên tịnh, yên định, không có sự dược động của sinh mệnh. Lại nếu đem đặt hai đường ấy xiên lại () cho nằm song song nhau, thế rõ là bất an định. Bức ảnh chỉ ảnh hưởng của mặt trăng lên năm người đàn bà. Những tia sáng cùng năng lượng của mặt trăng đã làm thần trí và cơ thể họ thay đổi, lệch lạc và hưng phấn cùng nhảy một điệu nhảy vui tươi (ý niệm này phát sinh một thời gian lâu trong suốt thế kỷ thứ 18 tại châu Âu). Biểu hiện của chữ “nhân” do hai nét đặt hơi xiên xiên, thấy rõ chỗ hoàn toàn an định nhờ nơi hiệp lực nhau, tương hỗ tương trợ nhau, thật vô cùng tốt đẹp. Dầu cho kẻ nào rên xiết thống khổ bao nhiêu, dầu cho bất hoà bao nhiêu như Mỹ với Nga, Đông với Tây, thượng đẳng với hạ đẳng của xã hội, chồng với vợ đi nữa, nếu họ ngắm nghía hình dáng tiêu biểu của chữ “nhân” này sẽ được vô cùng tốt đẹp. Chỗ bí mật của Âm Dương hoà hợp tạo thành về ưu mỹ của cảnh thanh tịnh chiếu minh nơi âm nhạc. Chữ “nhị”=(nghĩa là hai của chữ Nhật và Trung-Quốc)tỏ cho thấy Âm Dương là hơn hết. Chữ này chỉ cho thấy rõ chỗ ưu việt về thi- tứ của người Trung Quốc xưa nếu đem so sánh với chỗ quái- kỳ của chữ số A-rập và La-mã ngày xưa. Dấu chữ +, dấu chữ , và đều tỏ ra hình Âm-Dương không đúng. Đem chữ “nhị”= và chữ “nhân” ^ ghép lại , thành ra chữ “thiên” ^ lại là một ý nghĩa khác biệt nữa. Nhị = tức Âm Dương của tự nhiên giới, “nhân” tức nguyên lý sinh hoạt Âm Dương của con người và động vật. Thiên là ghép hai chữ “nhị” =và “nhân” lại tức là trời. Trong chữ tượng hình này, nguyên lí tương đối của Nhân phối hợp với Âm Dương tức là một nguyên-lý của đại-tự-nhiên và của đại-vũ-trụ. Chữ nhân là người, chỉ chun cái đầu vào trong sâu của nguyên lý đại-tự-nhiên tức đại-vũ-trụ, còn để cho thân hình được thung dung, tứ chi tay và chân cho vẫy vùng trong thế giới. Trời tức là thế giới của tự do vô hạn. Hạnh phúc vĩnh viễn và Hoà-bình tuyệt đối . Thử xem lúc tinh trùng chun đầu vào noãn tử, đây chẳng phải là một mô hình của thiên-quốc sao? Hiện tượng sinh mệnh phân liệt chẳng phải là một canh phân biệt đơn thuần vô nghĩa lý, mà chính là một cách phân liệt của Âm Dương. Đấy chỉ là một quá trình bay nhảy tận cùng về cái “Một”. Bởi vậy kẻ nói Một (chỗ huyền diệu của Lão-Tử, Cốc-thần) tức là kẻ đã nhận rõ, sản xuất ra và hấp thụ cái Hai (Âm Dương). Bởi vậy nếu rõ được trong cái Một có cái Hai (Hoà-bình). Một trong Hai (đối lập) người ta có thể giải quyết được ngay tất cả nỗi bí mật, tất cả nỗi thống khổ. Vậy cho biết vì có cảnh chống đối và tranh đấu cho nên từ khi khởi thuỷ đã có cái toàn, cái hoàn hảo, cái gọi là Một, duy nhất, cái gọi là vĩnh viễn. Nếu mắt của con người thấy được cái Một nầy, cái gọi là vĩnh viễn, hẳn rõ ràng sinh mệnh là vĩnh viễn,họ sẽ biết cho rằng tất thẩy mọi người trong thế gian đều đã được hạnh phúc hoặc đang trong cảnh hạnh phúc,hoặc sẽ có hạnh phúc. Âm và Dương đều triển khai dọc ngang vô hạn. Tất cả những hiện tượng gì có hỗ tương quan hệ phát sinh chẳng khác nào những cảnh nhào lên lộn xuống của sóng bể, của bọt nước sáng ngời như thuỷ tinh hoặc ngọc thạch, hiện ẩn theo luồng sóng ở ngoài khơi bể cả mênh mông. Những cảnh ấy hoàn toàn biến mất, chẳng một cái gì tồn tại và bị bể cả quấn theo lôi đi mù tít... Chỉ có bể cả vô biên mới diễn được trò vĩnh viễn này và tự thân bể cả vẫn ưu-du tự-tại. Bài thi ASTARTE của Pierre Louys là một bài thi đã tỏ rõ toàn cảnh này một cách kỳ-diệu. Sản-sinh-học của con người dạy cho chúng ta tỉ mỉ động cơ vô số những luồng sóng lăn tăn phủ đày bề mặt vô biên này, rồi tự thay đổi hình dạng theo biện chứng, càng ngày càng trở thành luồng sóng lớn, kết hợp nhau một cách phức tạp và thích thú, nổi phồng lớn lên, họp nhau, chia lìa nhau, lại xung đột nhau. Ban đầu Âm và Dương ấy thấy ra lăn tăn, rồi thu hút với nhau hợp lại thành ra một hình thống nhất và cái hình thống nhất ấy càng ngày càng thành to lớn lên để mà chia ly nhau, lại thu hút nhau, thống nhất trở lại. Chỗ tối sơ kết hợp của con người cũng như thế. Ban đầu còn nhỏ thì liên kết với anh, chị và cha mẹ, rồi liên kết với các em, các bạn bè còn nhỏ bé. Đó là sự liên kết tự nhiên. Đến lúc 16, 17 tuổi lại bị dị-tính thu hút,rồi đến 25, 26 tuổi lại có vợ chồng, lại quan tâm đến các vấn đề lớn hoặc nhỏ của xã hội, cách liên kết ấy vẫn cứ trở đi trở lại hàng muôn lần, trăm vạn lần và hàng ức vạn lần. Chỗ liên kết ấy càng bành trướng đông nhiều và lớn lao bao nhiêu, chúng ta càng tự do hạnh phúc bấy nhiêu.Dẫu cho có kẻ không ưa thích một ai, không ưa thích một động vật nào,một loại thảo mộc nào,một hoàn cảnh nào,khí hậu nào,sự khốn khôe nào, vấn đề nào đi nữa, thế mà đối vối họ đều trở thành thích thú, vui vẻ và cuối cùng được hạnh phúc, tuỵệt đối sung sướng trong thế giới, trong cảnh nhân sinh, trong vũ trụ. Kẻ đó đã có được cảnh đại hạnh phúc vĩnh viễn. Trải độ 3 đến 5 tỉ năm-theo sinh vật học mà xét-nghĩa là con người mới còn là cái trứng hoặc cái mầm mới tượng (thai nha) hoặc một noãn tử thứ nhất được thụ tinh, từ trước ngày ra chào đời cho đến khi thành một đứa bé, vẫn luôn luôn liên kết trở lại cái nầy với cái kia, bây giờ tung ra với thế giới mới với cảnh mạo hiểm ngang dọc bốn phương. Đấy tức là thế giới gọi là nhân sinh. Tuy vậy thế giới nhân-sinh nầy đủ làm cho thay đổi hẳn cảnh sinh hoạt của vương-tử trong cung-điện gọi là thai-nội của tử-cung. Trong cảnh đại gia-đình mênh mông to lớn xấp hàng trăm vạn lần của tử-cung đã có sẵn bao nhiêu vương-tử vương-nữ sinh ra từ trước. Bây giờ phải chịu với cảnh hàn thử thiết thân, ăn uống khác hẳn, phải bận áo quần. Đông Tây Nam Bắc từ phía mênh mông. Khi ở trong thai chỉ có trên dưới trước sau thế thôi, nay thì tứ phương bát hướng không gian mở rộng. Cái cảnh khi còn ở trong thai không còn nữa. Nhưng khi còn sinh trưởng ở trong thai 3 tỉ năm kinh nghiệm là việc phải nói. Từ 3 đến 5 tỉ năm, tấm thân chịu sự phán đoán của Âm Dương không sai chầy, vạn sự được tốt đẹp. Từ dây vương-tử nương dựa vào từ-thạch của phán đoán lực duy nhất của Âm Dương nầy, tung ra trong đời một cuộc đại mạo hiểm. Nhờ cái la bàn âm dương nầy tất thẩy sinh-vật đều thích thú bay nhảy trong đời nầy, nhưng vương-tử vương-nữ của con người cũng muốn biến hoá mạo hiểm như Alice bay bổng lên một cách vui thích, thế mà la-bàn tự do bị trở ngại. Từ đấy phải sinh ra cảnh gọi là mạo hiểm, dầu cho nhiều phương đi nữa, con người vương-tử không có cái la-bàn (tức giáo dục) phải bị trở ngại (tức tình cảm). Chạy càn chạy bậy. Cứ theo Toynbee, con người đeo đuổi theo cuộc mạo hiểm như thể trải ba chục vạn năm, trải hai chục lần mạo hiểm chồng chập của cái gọi là nền văn minh,bây giờ tới lúc tối hậu của cuộc đại mạo hiểm của nền văn minh Tây-phương, khiến cho bị thương nặng đến chết. Nhân đấy mà con người khởi sự bình tĩnh để phản tính nhớ lại cảnh lúc còn trong bào thai mẹ như thế nào. -------------------- ________Ngọc Trâm_________
|
|
|
|
![]() ![]() |
| .::Phiên bản rút gọn::. | Thời gian bây giờ là: 30th January 2026 - 12:28 AM |