IPB

Chào mừng Khách ( Đăng nhập | Đăng kí )

 
Reply to this topicStart new topic
> Bệnh viêm khớp
Diệu Minh
bài Apr 13 2007, 06:04 PM
Bài viết #1


Bạn của mọi người
***

Nhóm: Administrators
Bài viết: 12,699
Gia nhập vào: 13-February 07
Từ: 103 ngách 2 ngõ Thái Thịnh I
Thành viên thứ.: 5



LỜI MỞ ĐẦU
Bệnh viêm khớp được xem như là một bệnh dịch trên toàn thế giới, một căn bệnh thoái hoá thách thức nhân loại trong cuối thế kỷ 20 này. Ung thư, bệnh tim, bệnh AIDS, bệnh thần kinh và bệnh thoái hoá khác không từ một quốc gia nào. Nó vượt qua mọi nơi của hành tinh chúng ta mà không cần một giấy hộ chiếu hoặc thông hành nào cả.
Dầu số người mắc bệnh viêm khớp ở nước Mỹ chỉ ước chừng ở con số 37 triệu người nhưng trên thực tế con số cao hơn nhiều nếu bao gồm cả những người chưa được chẩn trị, thêm vào đó những trường hợp được coi là đã có triệu chứng tiền viêm khớp.
Sự hoá cứng không bình thường của các khớp thường bắt dầu từ khi thiếu thời. Nhiều người hiện nay, nhất là dân thượng lưu, sự đau đớn của bệnh viêm khớp là một bạn đồng hành kiên trì. Cuối cùng, ý kiến phổ biến nhất là bệnh viêm khớp được coi như là một phần tự nhiên có ở tuổi già.
Dù với khái niệm chung như thế, là trong quá trình lão hoá, viêm khớp chỉ là một trong nhiều bệnh mạn tính khác như ung thư, bệnh tim, bệnh Alzheimer và các bệnh khác là điều không thể tránh khỏi
Với thực dưỡng, chúng ta có cái nhìn rõ ràng là bệnh trên cùng với các bệnh thoái hoá khác không phải là một tiến trình bình thường và tự nhiên, chúng xảy ra do chúng ta đã quên đi cách ăn uống và sống thế nào để hoà hợp với môi trường xung quanh. Cách sống theo dưỡng sinh làm khôi phục lại sự hài hoà với thiên nhiên, do vậy trong mỗi giai đoạn của cuộc sống - từ lúc thơ ấu cho đến tuổi già, ai cũng có thể có được một sức khoẻ tự nhiên, tạo ra hoạt động và được vui sướng mãn nguyện.
Càng ngày, việc ngăn ngừa cá bệnh mạn tính dễ trở thành mối lo hàng đầu của xã hội, như sự khủng hoảng của căn bệnh AIDS và việc mất tính miễn dịch đã được biết.
Trong thế kỷ tới đây, tỷ lệ dân số có độ tuổi lớn ở nước Mỹ và cá nước tân tiến khác ngày càng tăng dần, cũng như thế hệ trẻ vươn tới tuổi trung niên. Do đó sự chọn lựa phải từ bây giờ, theo phương cách ăn uống dưỡng sinh, một lối sống mới, tất cả cho mục đích của chúng ta là sức khoẻ và bệnh tật, có thể sớm chứng minh phẩm chất của cuộc sống cho xã hội và cho tất cả.
Sự lựa chọn mà chúng ta đối mặt đang trở nên rõ ràng: chúng ta có thể tiếp tục trên con đường mòn cố hữu không thay đổi gì trong lối sống, và chúng ta rơi vào vòng bệnh tật: nào là ung thư, tim mạch,viêm khớp hoặc các đe doạ khác cho đời sống hoặc các nỗi bất an; hoặc chúng ta có thể tích cực hơn để cải thiện cho cuộc sống, nhất là cách ăn uống hàng ngày, để ngăn ngừa các bệnh tật và tận hưởng niềm vui với sức khoẻ suốt cuộc đời.
Con đường của chúng ta chọn quyết định phẩm chất của cuộc sống không phải cho cá nhân trong tương lai trước mắt, mà cốt cho thế hệ sắp tới.
Quyển sách này cũng như các sách khác trong loạt sách Dưỡng sinh và giáo dục về sức khoẻ, được viết ra nhằm để chuẩn bị cho ngày suy tàn của nền văn minh hiện đại nhân qua cá bệnh thoái hoá.
Những lờikhuyên về Thực dưỡng hiện nay đã gây nên tiếng vang trong việc hướng dẫn phòng chống bệnh ung thư, tim mạch và các bệnh khác với sự hướng dẫn qua các cơ sở sức khoẻ công cộng khắp thế giới. Hơn thé nữa, hàng trăm ngàn người, từ Tokyo đến Texas, từ Utah đến Yugoslavia đã nắm giữ được nguyên tắc của nó. Nhiều kinh nghiệm đem lại sự bình phục cho sức khoẻ, gồm cả việc cải thiện bệnh viêm khớp và các bệnh tai hại khác như là một thành quả.
Như các bạn đã biết, Thực dưỡng cống hiến một phương pháp ăn uống quân bình theo Thiên nhiên. Nguyên tắc giảng giải trong quyển sách này cống hiến một lối nhìn mới về sức khoẻ và cuộc sống con người,một lối nhìn có hàng ngàn năm nay từ sự hiểu biết cổ truyền đã tìm thấy trong cả Phương Đông và Phương Tây.
Sự ứng dụng của những nguyên tắc vũ trụ có thể mở ra cánh cửa đến một kỷ nguyên mới trong sự hiểu biết về sức khoẻ và bệnh tật, mở đường đến sự phát triển của nền y khoa toàn diện cho toàn thể nhân loại.
Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn giúp xây dựng để hoàn thành quyển sách này. Xin cảm ơn người bạn và cũng là cộng sự của tôi, Edvard Esko đã phối hợp, sửa chữa và bổ sung căn bản sau nhiều năm học và thực hành phương pháp Dưỡng sinh trong cuộc sống. Tôi cũng xin cảm ơn người cộng sự của chúng tôi, người đã tìm nhiều tài liệu về các bệnh viêm khớp và ứng dụng các nguyên tắc Dưỡng sinh qua sự hiểu biết thiên nhiên về bệnh này.
Tôi xin cảm ơn David Dodson, tiến sĩ y khoa đã xây dựng phần mở đầu, cùng với các bạn cung cấp các kinh nghiệm bình phục cá nhân của mình. Tôi cũng cảm ơn Christian Gautier trong các minh hoạ cũng như người cộng sự của chúng tôi Philip Jannetta và Nhà xuất bản Nhật ở Tokyo về việc sửa và kiểm chứng nguyên bản. Tôi chân thành biết ơn Aveline Kushi và Wendy Esko trong việc biên soạn phối hợp sách hướng dẫn phương pháp nấu nướng trong quyển Thực phẩm và phương pháp nấu ăn Thực dưỡng và xin cảm ơn ông Iwao Yoshizaki và Ô. Yoshiro Fujiwara, Giám đốc đại diện cho nhà xuất bản Nhật ở New York đã hỗ trợ liên tục cho các kế hoạch xuất bản sách Thực dưỡng.
Michio Kushi
Brookline, Massachusettes 4, 1998











CHƯƠNG I
ĐIỀU BÍ ẨN CỦA BỆNH VIÊM KHỚP
Ngày nay, chúng ta đối mặt với một vấn đề sức khỏe xem ra dường như bí ẩn. Đây không phải là vấn đề mới. Từ hàng ngàn năm trước nhân loại đã cố gắng tìm hiểu nó. Bất chấp những cố gắng của những bộ óc tinh tế, những chi phí hàng trăm triệu đô la để tìm kiếm, điều bí ẩn vẫn còn chưa được thấu hiểu. Mỗi chúng ta dường như đều có những kinh nghiệm cá nhân về vấn đề này trong cuộc sống của chúng ta. Do chúng ta không hiểu rõ nó, chúng ta không thể tránh được nó. Đó là điều bí ẩn của bệnh viêm khớp.
Tại Mỹ quốc, có độ khoảng 37 triệu người được chẩn đoán là mắc bệnh viêm khớp. Nếu chúng ta thêm vào con số này những người đau đớn do viêm khớp mà không được y khoa chẩn đoán, con số trên có thể lên đến 70 triệu người. Như thế có nghĩa là gồm 1/3 của dân số Hiệp Chủng Quốc. Và ngay cả con số chưa phát hiện được đầy đủ trong qui mô của bệnh viêm khớp. Mỗi người chúng ta ngày một già đi có nghĩa là ngày càng gần nguy cơ mắc phải bệnh viêm khớp. Trên thực tế, hầu hết mỗi người trên 60 tuổi đều có các khớp chuyển biến thành bệnh. Bệnh viêm khớp là một thành quả của sức khỏe mà chúng ta không thể tránh khỏi.
Mục đích của quyển sách này là để tìm hiểu tại sao bệnh viêm khớp lại trở thành như là một mô hình xấu trong đời sống chúng ta. Để hiểu được trọn vẹn, chúng ta bắt đầu bằng cách truy nguyên nguồn gốc của nó. Đây là chìa khóa mà chúng ta có thể hiểu rõ được nguyên do thực sự của bệnh viêm khớp, và do đó chúng ta có thể sửa chữa nó hoặc tránh được nó. Bắt đầu sự tìm kiếm, chúng ta có thể xác định là những hiểu biết về bệnh viêm khớp hiện nay, các nguyên do, cách trị liệu và hiệu quả đạt được, và thế nào mà bệnh thoái hóa này lại làm biến đổi cả cá nhân và tập thể của chúng ta.
Từ “arthritis” rút ra ở ngôn ngữ Đức. “Arth” nghĩa là “khớp nối” và “itis” có nghĩa là “viêm sưng”. Theo như định nghĩa này, viêm khớp là viêm sưng của một hay nhiều các khớp trong cơ thể .
Vào thời đó, các định nghĩa này được đặt ra để cho vào loại viêm khớp đang chi phối, còn đến ngày nay, với các lối chẩn trị hiện đại, định nghĩa bệnh viêm khớp đặt ra để thống kê cho nhiều loại viêm khớp hơn là chỉ cho vài loại viêm sưng. Nó bao gồm các vấn đề của các loại khớp và các mô liên quan, rộng hơn nửa cho các triệu chứng biểu lộ chung với bệnh viêm khớp.
Chuyên môn hơn, bệnh viêm khớp là một bệnh đến dưới một tên tổng quát của bệnh phong thấp rheumatic Diseases. Rheumatism là một từ ngữ Đức lấy ra từ “Rheumatisomos”, hay chất nhầy mà được tin rằng chảy ra từ óc đến các khớp và các phần của cơ thể, gây ra đau đớn theo nhiều cấp độ. Bệnh phong thấp là một tên gọi trong đó bao gồm cả những đau đớn và hóa cứng trong vài bộ phận của hệ thống cơ bắp, và đặc biệt cho các loại viêm khớp chính.
Viêm khớp là một trong nhiều bệnh nan y đã có từ xưa kia và làm khổ con người. Tổ tiên chúng ta, người vượn từ hai triệu năm trước cũng gánh chịu nhiều các bệnh viêm khớp mạn tính ở cột sống. Trong các xét nghiệm bằng tia X lên các xác ướp người Ai Cập cho thấy có sự biểu lộ của bệnh viêm khớp. Hoàng đế Ram II, cai trị Ai Cập từ 1304 đến 1225 trước Công nguyên cũng đã thống khổ vì bệnh này. Hippocrates, thầy thuốc cổ Hy Lạp cũng là người cha đẻ của nền y khoa hiện nay, thâm hiểu và đã có phương pháp trị bệnh viêm khớp. Trong Vương quốc La Mã trước đây cũng có một phương pháp tắm phức tạp nhằm chữa khỏi các cơn đau của viêm khớp.
Một vài nhân vật danh tiếng trong lịch sử cũng không thoát được bệnh này, trong đó gồm : Christopher, Columbus, Cardinal Richelieu, Mary Gueen of Scots, Tổng thống James Madison, Horace the Poet, Julius Caesar, Augustus Caesar, Pope Pius II, Leonardo de Vinci, Michaelangelo, Benjamin Franklin và Martin Luther.
Viêm khớp thật là một bệnh phổ biến, nó đánh vào cả nhà thơ, nhà chính trị, văn sĩ, nghệ sĩ, ngay cả các vị vua và hoàng hậu cũng không chừa !
Có nhiều cách chữa trị lạ kỳ đã được dùng để làm giảm đau bệnh viêm khớp. Châm cứu được dùng ở Trung Quốc. Các bộ lạc Phi Châu thì dùng cách xâm mình, ở Ấn Độ vào năm 1.200 trước công nguyên thì đã dùng dầu xoa bóp, dùng con đỉa và trích máu. Hippocrates thì khuyên để làm tiêu các viêm xương phải kiêng ăn với khẩu phần trong đó hạn chế rượu vang và thỉnh thoảng cho bệnh nhân thuốc xổ. Người La Mã thì dùng : dược thảo, rượu chát, mỡ ở da, tắm nóng, dùng cây thìa là, hạt cây Lanh, dấm, lá chanh và một vài loại thực phẩm khác. Sách thuốc Galen của các y sĩ La Mã có toa kê dùng pho mát và thịt lợn áp vào các khớp đau, người Tibetans, Mã Lai, Nhật có một lối chữa trị giống nhau. Trên thực tế dường như có rất nhiều cách, nhiều bài thuốc chữa viêm khớp đáng làm cho người ta ngạc nhiên.
Thông qua nhiều phương pháp như kể trên, chúng ta có thể thấy rõ được chiến lược căn bản đã dùng trước đây. Trước nhất là họ cố tống khứ các chất thừa ra khỏi cơ thể bằng cách kiêng ăn và xổ với thuốc nhuận tràng, gây cho ói, hạn chế thức ăn. Sự suy nghĩ chung vẫn là viêm khớp gây nên cho sự quá thặng dư trong cơ thể cần phải thải trừ ra ngoài và cơ thể sẽ trở lại tình trạng bình thường. Sự lập luận của chiến lược trên rất dễ hiểu nếu cho một căn bệnh khớp căng sưng, nóng. Cách chữa trị tổng quát thứ nhì gồm các cách trị liệu đặc biệt ngay tại vùng rối loạn cốt để làm giảm cường độ đau đớn. Kết quả của các lối trị liệu trên không mấy hiệu quả. Nếu một trong các cách trị liệu trên có kết quả thì nó đã được dùng cho đến ngày nay. Rốt lại nó chỉ mang lại cho chúng ta được cái ý kiêng ăn và châm cứu.
Phương pháp điều trị hiện tại thì gồm cả một đống đồ sộ dược phẩm được phân loại kết hợp với vật lý trị liệu và tập luyện. Khi nó không mang lại một kết quả nào thì người ta dùng phẫu thuật. Dù là những phương pháp này đôi khi mang lại một kết quả tạm thời, nó không bao giờ mang lại một thay đổi tận gốc của tiến trình viêm khớp.
Tại Mỹ hiện nay có khoảng 37 triệu ca viêm khớp chia thành 5 loại:

Loại bệnh viêm khớp Số người bị bệnh Mức độ mắc bệnh
Thống phong (gout)
Rheumatoid Arthritis
Lupus and Arthritis

Ankylosing Spondylitis
Osteoarthritis 1 triệu
7 triệu
1/4 triệu

2,5 triệu

16 triệu 80-90% là đàn ông
75% là đàn bà
8-10 lần phụ nữ nhiều hơn đàn ông
Hầu hết là đàn ông

Những người trên 60 tuổi

Với 100 loại viêm khớp được phân định ra làm hai loại lớn tùy theo triệu chứng nó gây nên trên khớp và trên cơ thể. Mục một gồm các loại viêm khớp sưng đỏ do triệu chứng gây viêm sưng đỏ trên cơ thể hoặc khớp. Gồm các bệnh: Rheumatoid arthritis, tenosynovitis, Lupus erythematous, polymyositis, dermatomyositis, psoriatic arthritis và vài loại nửa. Mục bệnh hai gồm các loại viêm khớp không gây sưng đỏ gồm : osteoarthritis và isolated osteoarthritis, traumatic arthritis, pseudogout, neuroarthropathy, enthesopathy và tendonitis. Tuy nhiên mục phân chia này không phải là không bị phản đối do có loại đáng lẽ không mà lại bị viêm đỏ, do đó thật là khó có thể chẩn đoán chính xác.
Viêm khớp tấn công vào mọi lứa tuổi, 150.000 người cho độ tuổi dưới 16, và cũng không ít cho lứa tuổi sơ sinh và khi chúng ta càng lớn, nguy cơ mắc bệnh càng nhiều. Đến tuổi già thì viêm khớp trở thành người bạn đồng hành. Thật là một điều đau khổ và âu sầu. Với những cá nhân thích thú ăn các loại trái cây, họ thường được kinh nghiệm về sự đau đớn, khó khăn hoặc bị hạn chế vận động.
Sự lan tràn bệnh viêm khớp thật là một tai họa lớn cho xã hội, hàng triệu triệu người không thể thực hiện được đầy đủ các chức năng trong cuộc sống của họ, và với những ca nghiêm trọng họ không còn có thể làm việc hoặc tự chăm sóc mình. Thiệt hại ra sao ? Để định mức nó được, chúng ta thử xác định trên ảnh hưởng kinh tế.
BẢNG 1 : VÀI THIỆT HẠI KINH TẾ CỦA BỆNH VIÊM KHỚP
+ Đánh giá trực tiếp trên việc chăm sóc y tế hàng năm
• Bệnh viện phí : 1,431,000,000 $
• Y sĩ khám bệnh : 1,238,000,000 $
• Dịch vụ chăm sóc đặc biệt : 322,000,000 $
• Dược phẩm: 798,000,000 $
• Chăm sóc tại nhà: 679,000,000 $
• Các phương thức khác:
• Tổng cộng trực tiếp: 6,226,000,000 $
+ Đánh giá gián tiếp của việc chăm sóc y tế, hàng năm
• Mất lương bổng: 6,046,000,000 $
• Mất việc làm tại nhà: 661,000,000 $
• Mất lương bổng và việc nhà cho các nhà từ thiện 239,000,000 $
• Mất nguồn tài chánh do chết sớm: 97,000,000 $
• Tổng cộng gián tiếp: 7,045,000,000 $
• Tổng cộng giá trị kinh tế
hàng năm USD: 13,269,000,000 $
Số liệu trên được công bố năm 1982 do Trung tâm sức khỏe quốc gia Interview Survey, Nursing Home Survey và bệnh viện Discharge Survey (năm 1975)
Mười ba tỷ đô la được chi phí hàng năm và mọi năm lại có hàng triệu ca mới được chẩn đoán thêm, con số nêu trên thực tế còn cao hơn nhiều.
Khoảng mục giá trị trực tiếp cho biết những việc tiêu phí thực tế cho bệnh viêm khớp như khám bác sĩ, chi phí nhà thương, thuốc men, thử nghiệm y tế và vài loại khác. Trong vài trường hợp, nhiều bệnh nhân viêm khớp không thể làm việc đều đặn do quá đau đớn và kết quả mất đi giá trị của công việc. Nếu tình trạng càng nghiêm trọng, bệnh nhân phải vào sống ở trại từ thiện.
Các mục giá trị gián tiếp trên chưa bao gồm các khoản thuế bị thất thoát, các khoản không có khả năng chi trả và nhiều khoản chi đáng kể tăng lên hàng năm của bệnh viêm khớp. Những con số trên cho ta thấy một nguồn kinh tế lớn đã được chi phí vào bệnh này.
Những con số cũng chưa phải là vấn đề lớn lao gì, nó không thể bộc lộ đủ các khía cạnh của bệnh viêm khớp. Viêm khớp nói lên điều gì cho từng cá nhân ? nó liên hệ và tác động ra sao đến cuộc sống từng cá nhân?
Mỗi sáng thức dậy và lập tức đối mặt với cơn đau thật là một cảnh chẳng thú vị chút nào ... Vậy mà đối với người bị bệnh viêm khớp đó lại là một phần cuộc sống của họ. Việc giản đơn nhất như ra khỏi giường trong mỗi buổi sáng, rồi đến nhà tắm để chải răng, đối với chúng ta chỉ là việc thường, lại là một hành động dũng cảm và nhẫn nại của bệnh nhân viêm khớp. Suốt ngày cơn đau dai dẳng làm tiêu phế đi nào là thể chất, tinh thần, tình cảm, gây khó khăn cho sự tập trung trên phận sự phải thực hiện trong ngày. Viêm khớp như tô đen cuộc sống và tất cả những phần của nó.
Những thân nhân người bệnh cũng trở nên căng thẳng, nếu một người nam hay nữ trong nhà mang bệnh, những người khác cũng phải kiên nhẫn, làm việc và tận tâm với họ. Nếu một đứa trẻ mắc bệnh, thật là một nguồn âu lo cho cha mẹ nó và tăng thêm sự túng thiếu đã vượt mức bình thường, chi phí ở nhà trường và vui đùa để trẻ phát triển tốt.
Rồi thì nào là thiên tài, năng khiếu sẵn có trong một số người cũng bị lu mờ do bệnh viêm khớp. Nguồn lực quan trọng nhất của xã hội là sức khỏe, thể chất, sinh khí của từng con người, nếu những tính năng này được nguyên vẹn thì hầu hết các khó khăn đều có thể vượt qua. Trái lại khi nó bị sa sút, yếu kém do bệnh tật có nghĩa là xã hội cũng suy sụp theo.





--------------------
________Ngọc Trâm_________
Go to the top of the page
 
+Quote Post
Diệu Minh
bài Apr 19 2007, 12:43 PM
Bài viết #2


Bạn của mọi người
***

Nhóm: Administrators
Bài viết: 12,699
Gia nhập vào: 13-February 07
Từ: 103 ngách 2 ngõ Thái Thịnh I
Thành viên thứ.: 5



CHƯƠNG 3
VIÊM KHỚP VÀ SỰ KIÊNG ĂN

Nếu chúng ta xem xét cẩn thận sẽ thấy các triệu chứng bệnh viêm khớp có thể được phân làm hai nhóm :
Nhóm 1:
 Ít có các triệu chứng và ít có sốt đi kèm
 Ít nóng đỏ
 Ít viêm sưng
 Đau nhẹ, sâu.
 Liên quan đến các phần trung tâm và phần dưới thấp của cơ thể.
Nhóm 2 :
 Nhiều phần của cơ thể bị dính líu và kèm theo nhiều triệu chứng.
 Nhiều nóng đỏ
 Sưng viêm nặng
 Đau nhức dữ dội và theo chu kỳ
 Liên quan phần.... ngoại biên và phần trên cơ thể.
Hiểu biết tất cả các loại viêm khớp là bước đầu để hiểu được nguyên do của bệnh. Câu hỏi kế tiếp là điều gì đã tạo ra sự khác biệt này trong sự khác biệt của bệnh viêm khớp.
Trong nếp nghĩ dưỡng sinh, điều kiện thể chất mà chúng ta tái tạo mỗi ngày bởi những gì mà chúng ta thu nhận từ môi trường xung quanh. Trong đó, thức ăn và uống hằng ngày đóng vai trò then chốt. Hằng ngày chúng ta tiếp thu môi trường xung quanh dưới hình thức thực phẩm. Chúng ta xử dụng năng lượng và nguồn dinh dưỡng trong thức ăn để tái tạo cơ thể và cung cấp năng lượng cho hoạt động của đời sống chúng ta. Do vậy chất lượng thức ăn và thức uống quyết định chất lượng đời sống chúng ta, bao gồm tình trạng trong máu, chất lỏng, mô, tế bào, xương và các khớp.
Ở các triệu chứng của bệnh viêm khớp, các thức ăn hằng ngày được xem như đã tạo ra hai tác động. Những loại thực phẩm nào đó có tác dụng làm giãn nở cơ thể, trong khi đó những loại khác làm co lại. Trong thiên nhiên hai lực này được Dưỡng sinh qui vào hai lực âm và dương.
Phần lớn các thực phẩm có nguồn gốc động vật gồm trứng, thịt, pho mát gia cầm và hải sản thuộc dương co rút, khi dùng quá nhiều sẽ gây tình trạng quá co thắt trong cơ thể, tình trạng này bị tác động, làm vặn vẹo, méo mó các khớp. Vậy các thức ăn này tác động như thế nào lên cơ thể, các khớp nào bị tác động, với mức độ nào, sinh ra các triệu chứng nào tùy thuộc vào .... sự chọn lựa sử dụng các thực phẩm của từng người. Ví dụ như, vài người ăn thịt bò mỗi ngày, trong khi người khác thì thích dùng thịt gà và trứng. Số lượng thức ăn và tỷ lệ đối với các thực phẩm khác cũng xác định các vị trí riêng biệt của triệu chứng theo từng kinh nghiệm cá nhân.
Các thực phẩm làm từ sữa cũng tác động lên xương và các khớp, trong đó gồm sữa, bơ, kem, kem cây và yaour có tác động làm trương giãn cơ thể và tạo nên các triệu chứng viêm và nóng đỏ. Các loại có nguồn gốc từ sữa khác như pho mát cứng, mặn tạo nên tác động co cứng làm cứng nhắc các khớp.
Sự dùng quá nhiều các thức ăn nêu trên, chứa quá nhiều mỡ và cholestérol còn tác động đến các phần khác của cơ thể, như các mạch máu trở nên hẹp và cằn cỗi, máu chảy qua khó khăn. Trong vài trường hợp, dòng máu đến nuôi dưỡng cơ quan hoặc các phần khác của cơ thể bị nghẽn nghẹt do ống mạch máu đóng quá nhiu mỡ và cholestérol. .
Khi nó xảy ra ở các mạch máu nuôi dưỡng tim, được gọi là nhồi máu tim, nếu xảy ra ở các mạch máu nuôi dưỡng não được gọi là bệnh đột quỵ.
Cả hai tình trạng trên, ngày nay rất phổ biến do người ta dùng quá nhiều thực phẩm động vật. Như chúng ta đã thấy, dùng quá nhiều các thực phẩm thái quá nêu trên đã làm cho cơ thể mất thăng bằng và dẫn đưa đến bệnh tật.
Tránh dùng các thực phẩm thái quá, các mạch máu sẽ thông thoáng dần, và thay thế vào đó các thực phẩm ít mỡ như ngũ cốc, đậu, rau củ tươi, là xây dựng một lối sống tự nhiên, ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Tuy nhiên vì thay đổi thức ăn, nhiều người lại xoay qua một cực đoan hơn, đó là phương pháp dùng hóa chất, dùng aspirin hằng ngày, hy vọng sẽ ngăn ngừa được bệnh. Aspirin cực âm, tác động trương giản và cho ra rất nhiều phản ứng phụ, nó cản trở khả năng đóng cục của máu và có thể làm vết thương lâu lành. Nó cũng có thể gây cho mạch máu trương giãn và vỡ ra, làm xuất huyết. Aspirin thường gây xuất huyết ở dạ dày, ruột và các cơ quan tiêu hóa.
Như chúng ta đã thấy, nhiều bệnh tim mạch phát sinh do từ sự tiêu thụ quá nhiều thức ăn của động vật chứa mỡ đã bào hóa và cholestérol.
Aspirin một chất gây giãn nỡ cực độ đôi khi cũng có tác dụng làm chậm đi tốc độ trầm tích, tuy nhiên nó không làm thay đổi nguyên nhân, và mang lại nhiều rủi ro cho các tác dụng phụ của nó. Hơn thế nửa nhiều tình trạng bệnh tim mạch lại do một nguyên do trái nghịch. Đó là do tiêu thụ quá nhiều đường, sữa, ca phê, nước ngọt, kem cây, trái cây vùng nhiệt đới, và vài loại thức ăn quá âm khác gây tác động trương giãn. Cú đột quỵ do vỡ mạch máu ở não là một ví dụ của loại hình mất trật tự này, và aspirin, một sản phẩm có tính trương giãn, không giúp gì cho trường hợp này mà trái lại còn làm cho xấu đi.
Nói tổng quát, thức ăn có nguồn gốc thực vật âm hơn và tác dụng trương giãn hơn là thức ăn từ động vật, tuy nhiên có nhiều cấp trương giãn khác nhau. Một vài thức ăn động vật mọc ở vùng nhiệt đới thì có tác dụng làm trương giãn hơn là các loại mọc ở ôn đới. Rau củ như cà chua, khoai tây, khoai ngọt, khoai từ, cà tím, tiêu, và các loại khác đến từ vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới có tác dụng rất âm. Các loại trái cây nhiệt và bán nhiệt đới như chuối, dứa, chanh cũng rất âm , cũng như các sản phẩm càphê, đường, chocola, gia vị. Trong khi các loại ăn được như gạo lứt, đậu, rau củ tươi trồng tại chỗ, rong biển và các loại có nguồn gốc từ các vùng ôn đới thì quân bình hơn về hai lực trương giãn và thu hút (hoặc năng lực âm và dương). Một sơ đồ sắp xếp theo mục lục các thức ăn theo âm và dương sẽ được trình bày dưới đây.
Những loại thực phẩm quá âm có liên quan đến sự phát triển của bệnh viêm khớp. Ví dụ như vai trò của các loại rau củ như khoai tây, cà chua, cà tím và tiêu đối với bệnh viêm khớp ngày càng được nhận rõ. Trong quyển Bệnh viêm khớp và họ cây cà, Bác sĩ Norman Childers cho biết mỗi khi ông loại bỏ các hình thức này trong bữa ăn của ông, bệnh viêm khớp lập tức được giảm rõ rệt.
Khoai tây và cà chua có nguồn gốc tại Nam Mỹ, do những người Tây Ban Nha khám phá ra vào khoảng năm 1600 và mang vào Âu châu. Lúc đầu nó bị dân chúng hoài nghi, tuy nhiên qua một thời gian được cả Âu châu chấp nhận dùng làm thức ăn. Lần đầu khi khoai tây được mang lại trồng tại Châu Âu, người ta bội thu, và từ kết quả này khoai tây được nhân rộng ra khắp lục địa như là một nguồn dinh dưỡng có giá trị.
Nhưng do nó được mang trồng những vùng khác xa nơi nguồn gốc nên nó bị thiệt hại do nhiều loại sâu bọ, côn trùng. Và khoai tây từ đó thay thế cho loại thức ăn hạt đã được trồng ở đất Châu Âu từ hàng ngàn năm, người ta ngày càng xem nó là thức ăn thông thường. Vào năm 1840, hàng triệu người bị đói khát do khoai tây trồng bị nhiễm bệnh, bị côn trùng phá hoại làm mất mùa thu hoạch.
Khoai tây và cà chua chứa một độc chất gọi là Solamine loại alkaloid cùng họ với nicotine và caffeine, có dưới da của củ khoai, trong những mầm xanh, chồi non. Solamine gây bất lợi cho hệ thống tiêu hóa và hệ thần kinh và là tác nhân làm bệnh viêm khớp phát triển.
Tiêu thụ liên tục những loại rau củ này, thuộc họ nhà cà, sẽ làm cạn kiệt nguồn calcium ở xương và gây nên sự trầm tích ở các khớp, mạch máu và các phần khác của cơ thể, ăn quá nhiều loại này còn làm suy yếu ruột. Các độc chất tích lũy ở trong và xung quanh các khớp xương, cũng như là ở các cơ quan khác, gây hiện tượng vôi hóa, viêm và sưng đỏ ở các khớp.
Có lần một người phụ nữ đến để xin hướng dẫn về phương pháp dưỡng sinh. Cô ta đến từ Péru, là nơi nguồn gốc trồng cây cà chua. Suốt thời niên thiếu, cô ta dùng cà chua theo cách nấu nướng cổ truyền phơi khô rồi tán thành viên bột và ăn như là một thức ăn gia vị. Tuy thế, khi đến Mỹ, cô ta khởi sự dùng cà chua như là một thức ăn chính. Và ăn rất nhiều so với lúc ở Péru. Hơn thế nửa, cô lại bắt đầu dùng cà chua theo kiểu Mỹ: gồm cách đút lò và chiên. Với cách ăn này sau nhiều năm tình trạng sức khỏe của cô ta dần dần xấu đi. Cho đến khi cô đến một trung tâm hướng dẫn Dưỡng sinh của chúng tôi, hầu hết các khớp xương trên thân thể của cô đều đau nhức kịch liệt, táo bón hàng tuần và chỉ đi ngoài được nhờ vào dụng cụ thụt.























Ảûnh 7 : Ví dụ về thức ăn được sắp xếp theo âm và dương
Đường tinh chế, một sản phẩm cục âm, cũng có tác động lên xương và khớp xương. Đường đơn, như mật ong, đường tinh chế, sirô cây thích maple syrup, được tiêu thụ và đi vào máu rất nhanh, làm cho máu bị axít hóa. Để trung hòa, cơ thể huy động những muối khoáng dự trữ bên trong tạo ra chất đệm trung hòa và loại bỏ các axít dư này. Nếu cứ mãi ăn đường, nguồn muối khoáng trong máu sẽ cạn kiệt và đến lúc này nguồn calcium trong xương và răng phải được dùng đến để tạo cân bằng cho sự tiêu dùng thái quá các loại kẹo, nước ngọt, các món tráng miệng có đường. Trong ca nghiêm trọng hơn, xương có thể làm bị dòn và mòn đi do kho dự trữ khoáng chất cạn kiệt.

 Các loại viêm khớp : Tổng quát, triệu chứng viêm khớp được phân làm hai loại :
1. Viêm khớp âm (trương giãn): do dùng quá nhiều thức ăn.... và uống cực âm như trái cây, nước trái cây (đặc biệt các loại đuợc trồng ở vùng nhiệt đới), gia vị các thức uống có hương vị, nước ngọt, đường, màu mùi nhân tạo, mật ong, chocolate, cũng như dùng thái hóa các loại cà chua, khoai tây, cà tím, và các loại thức ăn rau củ có nguồn gốc nhiệt đới.
2. Viêm khớp dương (thu rút): Do dùng quá nhiều thức ăn quá dương, như, thịt, trứng, trai sò và các loại động vật khác. Quá nhiều muối và khoáng chất khác, như dùng quá nhiều calcium cộng thêm với việc tiêu thụ các thức ăn làm từ sữa, cũng tạo nên trạng thái co rút thái quá ở các khớp.
Tuy vậy, dù là loại viêm khớp nào, mức độ càng trầm trọng hơn nếu tiêu thụ thêm nhiều mỡ và dầu từ nguồn động vật hay thực vật. Thêm vào đó, cảø hai loại viêm khớp đều càng trầm trọng hơn nếu dùng quá nhiều nước, nước ướp lạnh như soda, bia, rượu và các thức uống ướp lạnh khác. Kem cây đương nhiên cũng là một trong những yếu tố chính góp thêm phần vào đó.
Có hàng trăm loại viêm khớp khác nhau được xác định, tuy nhiên chúng đều có thể được xếp vào loại âm hơn hoặc dương hơn (có vài loại viêm khớp gồm cả hai tính) tùy theo nguyên nhân và tính cách triệu chứng của nó tạo nên.
Chi tiết hơn, chúng ta có thể phân chia hai loại trên thành các phụ lục tùy theo mức độ âm hơn (trương giãn) hoặc dương hơn (thu rút) tùy theo các triệu chứng nó gây ra. Cách sắp xếp này phù hợp với sự am hiểu về sự diễn biến năng lượng nguồn gốc từ phương pháp thực hành châm cứu và các hình thức khác thuộc y học cổ truyền Đông phương kết hợp với phương pháp Dưỡng sinh ngày nay.
Theo cái nhìn dưỡng sinh, âm và dương nảy sinh trong hoạt động liên tục của năng lượng trong thiên nhiên. (Từ năng lượng ở đây được dùng để diễn tả các hiện tượng chứ không ám chỉ các tia sóng bức xạ). Mọi vật ngay cả kim loại, đá quý, kim cương chỉ là những rung động ở cấp độ nguyên tử. Hơn nửa mọi vật đều tự biến đổi trạng thái của chúng; không có một vật gì định tĩnh hoặc không thay đổi.
Trên trái đất, chu kỳ âm, dương bộc lộ ra ngày và đêm, và sự thay đổi các mùa. Ví dụ trong những tháng đông gió lạnh, năng lượng trở nên cô đọng, cây cỏ và loại vật ngưng nghỉ, giảm hoạt động lại, trong khi đó hoạt động của con người cũng trở nên tập trung và thầm kín. Trong các tháng mùa hạ, năng lượng trương giãn thắng thế. Cây cối phát triển xum xuê, phong phú và con người hoạt động hơn, hướng ra bên ngoài hơn.
Thông thường vào ban đêm, năng lượng của bầu khí quyển trở nên tĩnh, hướng hạ, trong khi buổi sáng và suốt ngày đầy ánh sáng, hoạt động hơn và có tính hướng thượng.
Trong chu kỳ này, năng lượng hoạt động đi đi lại lại giữa hai lực co rút và trương giãn, nóng và lạnh, ánh sáng và bóng đêm với giai đoạn thay đổi của hai chiều hướng. Ví dụ như mùa xuân, đại diện cho sự bắt đầu trương giãn, thực vật đâm chồi, nẩy tược và xanh tươi (màu âm), bắt đầu chiếm lĩnh ưu thế. Mùa hạ là thời kỳ tột đỉnh trương giãn, của nhiệt lượng tràn đầy, kích thích cây cỏ thêm tươi tốt trong thế giới thực vật. Và rồi năng lượng biến đổi qua thu phân. Tại Đông phương được gọi lúc này là mùa “hạ chậm” (tại Mỹ gọi là mùa hè Ấn Độ), ta bắt đầu chuyển qua thời kỳ hướng hạ hơn hoặc là thời năng lượng tập trung.
Năng lượng thu hút lên đến đỉnh trong suốt mùa thu, cây cối rụng lá và dần chìm vào trạng thái ngủ yên. Sau đông chí, năng lượng mặt trời dần dần tái hoạt hóa lại năng lượng trong bầu khí quyển và trong vương quốc thực vật. Tiến trình này dần dần được bù lại bởi thời tiết lạnh giá của mùa đông, năng lượng trong bầu khí quyển có khuynh hướng nổi lên giữa hai lực trương giãn và thu hút. Những mô hình tương tự trong chu kỳ ngày và đêm và khắp nơi trong thiên nhiên.
Xuyên qua lịch sử, nhiều tên gọi đã được dùng để diễn tả các giai đoạn của chu kỳ này. Các tên gọi này trong Dưỡng sinh được dùng để diễn tả khuynh hướng ưu thế của năng lượng hoạt động tại mỗi giai đoạn của chu kỳ. Trong Dưỡng sinh xem các giai đoạn của năng lượng chuyển biến như sau:
1. Hướng thượng năng lượng (mùa xuân)
2. Hoạt hóa hoặc trương giãn năng lượng (mùa hạ)
3. Hướng hạ năng lượng (cuối hạ).
4. Thu liễm năng lượng (mùa thu)
5. Phiêu bồng năng lượng (mùa đông)
Các y sĩ Đông phương kết hợp các giai đoạn này với các hiện tượng và đặt tên chúng thành
1. Mộc
2. Hoả
3. Thổ
4. Kim
5. Thuỷ
Bảng ngũ hành của năng lượng
Năng lượng Mộc Hoả Thổ Kim Thuỷ
Năng lượng Hướng thượng Rất hoạt hoá Hướng hạ Chắc chắn Nổi
Ví dụ Ga Tuyết tương Cô đặc Cứng rắn Chất lỏng
Cơ quan Gan, mật Tim, ruột non Lách, tuỵ tạng Phổi, đại tràng Thận, bàng quang
Phương hướng Đông Nam Trung tâm Tây Bắc
Mùa Xuân Hạ Cuối hạ Thu Đông
Tháng Trăng vừa khuyết Trăng tròn Trăng mờ tối Trăng cuối khuyết Trăng non
Ngày Sáng Trưa Xế trưa Chiều Tối
Môi trường Gió Nóng Aåm Khô Lạnh
Ngũ cốc Lúa mì, lúa mạch Bắp ngô Kê Gạo Đậu hạt
Rau củ Mầm chồi, cây mộc Cây có lá rộng Cây tạo hình tròn Cây nhỏ ngắn Rễ cây
Trái cây Trái cây vào mùa xuân Trái cây vào mùa hạ Trái cây cuối hạ Trái cây vào mùa thu Trái cây mùa đông
Mùi Dầu mỡ Nóng Thơm Tanh Thối
Vị Chua Đắng Ngọt Hăng cay Mặn
Cơ phận Mỡ Mạch máu Bắp thịt Da Xương
Chi nhánh Móng Lông Vú, môi Khí quản Tóc
Chất lỏng Nước mắt Mồ hôi Nước dãi Nước mũi Nước bọt
Tâm trạng Thú vị Lo âu Thổn thức Ho Run rẩy
Giọng nói La cười Hát Khóc Rên rỉ
Chức năng Màu Mùi Vị Giọng Chất lỏng
Phản ứng Giận Cười Do dự, nghi ngờ Chán nản Bất an
Bảng sắp xếp này có thể bao trùm tất cả mọi vật trong thế giới tự nhiên. Như trong bảng 2, chúng ta có thể thấy ngay trong thực vật cũng có rất nhiều sự khác nhau, như rễ cây chứa nhiều năng lực tập trung và hướng hạ, còn mầm chồi và lá xanh lớn lá mọc hướng lên trên và nhiều lực trương giãn. Và rồi đặc biệt các rau củ tròn như bắp cải, hành củ thì tùy mức độ chứa năng lực mức giữa. Tương tự như thế, có thể phân biệt các loại ngũ cốc, trái cây và các thực phẩm khác.
Các phần khác nhau của cơ thể, như các cơ quan bên trong, cũng có thể sắp xếp theo phẩm chất năng lượng của nó. Với quan điểm này, mọi vật đều là sự biến thể của năng lượng, cũng không phải là điều gì mới mẻ. Nó đã được ghi chép trong dịch kinh, hoặc trong nội kinh của hoàng đế, quyển sách đầu tiên trình bày nền tảng, lý thuyết của y học Đông phương hàng ngàn năm trước đây. Để biết thêm chi tiết nói về các giai đoạn chuyển biến của năng lượng và các chu kỳ khác của năng lượng, xin xem quyển Dưỡng sinh và y học phương đông, tác giả Micho Kuchi với Phillip Jannetta, nhà xuất bản Nhật (1998) .
Viêm khớp là sự mất cân bằng trong dòng nuôi dưỡng và năng lượng của cơ thể. Như vậy sự hiểu biết về âm dương và các giai đoạn chuyển hóa của năng lượng có thể giúp làm sáng tỏ bí mật của bệnh viêm khớp. Ví dụ như, các khớp trở nên cứng, khô,..... kết dính lại là do sự co cụm quá trớn (năng lượng hướng hạ). Phạm vi trong đó nếu các triệu chứng xuất hiện càng lớn, có nghĩa là mức độ co rút của năng lượng càng nhiều. Và mặt khác, nếu các khớp trở nên sưng phồng, giãn ra, hoặc viêm sưng, thì đó là đặc trưng của năng lượng hướng thượng, trương giãn quá độ. Cấp độ trương giãn qua các triệu chứng xuất hiện càng lớn, mức độ năng lượng trương giãn của viêm khớp càng cao.












Ảnh 8: triệu chứng viêm khớp và các giai đoạn của năng lượng
Trong ảnh 8, biểu tượng đầu tiên đề cập đến sự tương quan trương giãn và co rút của năng lượng chuyển hóa. Chúng ta hãy thử xem các loại viêm khớp chủ yếu liên quan với các giai đoạn của năng lượng chuyển hóa như thế nào.
 Bệnh viêm khớp Rheumatoid Arthritis : Triệu chứng thông thường của bệnh viêm khớp này là viêm và sưng đỏ ở các khớp và cường độ đau theo chu kỳ có thể trở thành mạn tính. Thông thường nó tác động các khớp như khớp đốt ngón ở tay, cổ tay, đầu gối ,mắt cá chân.
Loại viêm khớp này thường kèm theo nhiều triệu chứng như sốt nhẹ, mệt nhọc, kém ăn và sụt cân thiếu máu cũng có thể dẫn đến viêm màng phổi, trương giãn lá lách, tim đập nhanh và có sự phát triển bướu viêm (Cục hình thành dưới làn da), đặc biệt ở gần khuỷu tay.
Gồm nhiều ở phần ngoại vi khớp, ổ tay, cẳng chân, bàn chân, có viêm đỏ và rất nhiều triệu chứng, chứng tỏ bệnh Rheumatoid arthritis do từ sự quá dư thừa năng lượng “hướng thượng” trong cơ thể. Đó là do tiêu thụ quá nhiều thực phẩm có năng lượng trương giãn mạnh, như trái cây, nước trái cây (đặc biệt trái cây ở vùng nhiệt đới), gia vị, chất ngọt cô đặc, rượu, và rau củ như cà chua, khoai tây, họ cà, là nguyên do tình trạng này. Sự tiêu thụ mỡ, gồm cả trong sữa, kem cây, bơ, pho mát, gà giò và trứng cũng có thể tạo ra sự tập trung năng lượng hướng thượng dẫn đến bệnh này.
 Bệnh viêm khớp Lupus : Triệu chứng thông thường của bệnh này là các khớp đau nhức và dễ thương tổn khi cử động, nhưng không có viêm và nóng đỏ. Thường bị ở các khớp cổ tay, khớp ngón tay (nhất là khớp ngón giữa) và đầu gối.
Tình trạng này là một phần của nhiều triệu chứng khác trong cơ thể: nổi ban ở da, đặc biệt là hai gò má và sống mũi, rụng tóc,.... da phản ứng mạnh với ánh nắng, lở miệng, mất quá nhiều Protein trong nước tiểu, viêm sưng ở vùng tim, màng phổi, và ở màng khoang bụng, giảm máu rối loạn tâm thần và đôi khi co giật. Các phần khớp bị bệnh tổng quát của bệnh này cũng giống như các phần khớp của bệnh Rheumatoid, ngay cả các khớp cũng không bị viêm sưng, triệu chứng đi kèm còn nhiều hơn trong bệnh Rheumatiod chứng tỏ là bệnh Lupus nằm trong tình trạng trương giãn cực kỳ hơn nửa.
Bệnh Lupus gây nên do tiêu thụ quá nhiều thức ăn quá âm như đường, các chất ngọt nhân tạo, trái cây nhiệt đới, kem cây, chocolat, nước ngọt, hóa chất, thuốc viên, các loại dược phẩm và rau củ có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới. Mỡ và Protein động vật, gồm cả trong sữa và sản phẩm từ sữa, cũng góp phần do tạo ra các cục u và mỡ đóng ở phổi, thận, ruột non làm giảm đi khả năng thải độc của cơ thể.

 Viêm khớp ostéoarthritis : Triệu chứng thông thường của bệnh này là lớp sụn ở các khớp xương bị ăn mòn dần, các khớp hẹp lại, và gai xương phát triển làm các xương dính liền lại. Vùng hông, xương sống, đầu gối, và khớp chân thường bị tấn công, những mấu xương được tạo thành ở khớp cuối các ngón. Thường không có nhiều triệu chứng đi kèm.
Như chúng ta thấy, các khớp ở trung tâm và phần dưới cơ thể, đặc biệt ở hông và xương sống thường bị tấn công trong bệnh này đôi khi kéo theo một vài phần ngoại vi như các khớp ở đầu gối, chân và các ngón tay. Vị trí của các khớp nói trên chứng tỏ tình trạng năng lượng hướng hạ hoặc cô đọng đã trở nên quá thừa thãi.
Thực phẩm có năng lượng cô đọng gồm mỡ động vật, ù trong thịt, trứng, gia cầm, pho mát, cũng như nhiều muối và các chất khoáng. Loại mỡ đã bão hòa trong thức ăn động vật tụ đọng ở các khớp nằm sâu hoặc nằm phần dưới cơ thể. Sự phát triển các mấu xương ở phần cuối của ngón tay cũng là dấu hiệu tiêu thụ quá nhiều mỡ, đặc biệt có trong gà giò, trứng, gia cầm. Trái cây, đường, kẹo ngọt, trái cây nhiệt đới và rau củ và các thức ăn quá âm cũng tạo nên sự xói mòn dần các khớp được thấy trong bệnh viêm khớp ostéoarthritis này.

 Viêm khớp ANKYLOSING SPONDYLITIS : Bệnh này tạo viêm nóng ở gân hoặc dây chằng giữ xương, nó thường bắt đầu ở phần cuối xương sống và dần dần tiến lên phía trên và kèm theo chút ít mệt nhọc, mất cân và viêm sưng ở động mạch chủ của tim.
Trong bệnh này các khớp ở phần cuối xương sống bị tấn công trước. Nói cách khác, nó bắt đầu từ dưới thấp và từ phía trung tâm của cơ thể. Các phần ngoại vi không bị tấn công.
Bệnh viêm khớp này gây nên do thừa thãi quá nhiều năng lượng cô đọng, kết quả từ sự tiêu thụ quá nhiều thịt, trứng, gà giò, pho mát cứng và các loại mỡ chế từ sữa, các chất khoáng và sản phẩm bột nướng.
Tiêu thụ quá nhiều thực phẩm cô đọng có thể gây ra vặn vẹo và lệch cấu trúc xương và có thể làm dính kết các khớp xương sống. Hơn thế nửa, một thực đơn giàu mỡ động vật rất bất lợi cho tim, cũng như cho bệnh viêm khớp này. Trong trường hợp đặc biệt hơn, xương sống cứng lại, bị cong lại phía trước với cái đầu nghiêng tạo hẳn một góc độ với thân hình, trạng thái này do kết quả của việc dùng quá nhiều gà, trứng. Sự cứng ngắc của bộ phận cuối xương sống có liên quan tạo ra nhiều vấn đề cho phần đối nghịch lại ở các phần phía trước của cơ thể gồm bàng quang, cơ quan sinh dục và ruột non.
Tiêu thụ quá nhiều đường, nước ngọt, trái cây nhiệt đới và rau củ, gia vị và các thức ăn có quá nhiều năng lượng trương giãn tạo ra viêm và sưng đỏ các vùng gân và dây chằng bám vào xương cũng như ở các van động mạch chủ.



(Đ) Aâm LUPUS

RHEUMATION OSTÉEARTHRITIS

GOUT ANKYLOSING
SPONDYLITIS
Dương(∆)

Ảûnh 9 : Năm loại viêm khớp
 Bệnh Thống phong (Gout) : Bệnh viêm khớp (gout) tạo sự đau đớn do viêm sưng và viêm nóng đỏ ở ngón chân cái, mu bàn chân, mắt cá, đầu gối, cổ tay và ngón tay, thường kèm theo nhiễm sỏi thận.
Đặc trưng của bệnh gout thường bị nhiễm vùng khớp phần thấp của cơ thể, chủ yếu ở ngón chân cái. Rất đau đớn, kèm sưng và viêm đỏ, nặng vào ban đêm và bệnh theo chu kỳ. Thống phong là một điển hình của sự tiêu thụ quá trớn của hai loại thực phẩm của trương giãn và cô đọng, và được sắp xếp vào loại tương ứng với năng lượng (nổi lên) phiêu bồng.
Bệnh gây nên do kết quả của việc dùng quá nhiều hai loại cực âm và dương như thịt và rượu, pho mát và rượu chát, thịt với nước xốt kèm theo các món tráng miệng có đường, thịt nướng và nước giải khát lạnh.

 Tiến trình phát triển của bệnh viêm khớp : Viêm khớp là một phần của tiến trình thoái hóa thường liên tục phát triển. Nhưng chúng ta thấy, nó bắt nguồn từ bữa ăn hàng ngày và lối sống của chúng ta. Sự phát triển càng nguy hiểm khi chúng ta càng trọng tuổi.
Những người trẻ khỏe mạnh có đầy đủ điều kiện đối kháng với bệnh viêm khớp, cơ thể của họ mềm dẻo, hoạt động và đầy năng lực. Viêm khớp hiện diện một cách không bình thường khi tuổi già, cơ thể trở nên cứng nhắc. Tuy nhiên nếu thức ăn và cách sống của chúng ta được cân bằng thường xuyên, viêm khớp không xuất hiện, dù lúc tuổi đã già.
Khi bữa ăn của chúng ta được chọn dựa trên nền tảng dùng những thức ăn cân bằng, như ngũ cốc lứt, đậu, rau củ tươi trồng tại địa phương, các hải sản ít mỡ, trái cây trong vùng và vài thứ khác, cơ thể chúng ta có khả năng thải trừ các chất vô ích, tạo nên sự tiêu hóa và biến dưỡng theo tiến trình bình thường, như các nhu động ở ruột và cơ quan bài tiết nước tiểu, mồ hôi, hoạt động cơ thể hàng ngày và ở phụ nữ qua đường kinh nguyệt. Trái lại nếu tiêu thụ thức ăn thái quá, các năng lực thải trừ bình thường không còn khả năng tống khứ các yếu tố thặng dư đó nửa. Khi xảy ra tình huống này, các hiện tượng thải độc xuất hiện: gồm các hiện tượng như ho, tiêu chảy, hắt hơi và dị ứng. Trong chu kỳ cảm cúm cũng là một nỗ lực của cơ thể nhằm đào thải độc tố sau thời gian ăn uống mất quân bình.
Nếu các bữa ăn của chúng ta tiếp tục sai lệch thì ngay cả chu kỳ đào thải chất độc cũng không đủ thanh lọc cơ thể hết chất độc quá tải. Và thời điểm các chất độc bắt đầu tích tụ lại thông thường là dưới dạng mỡ các khối u ở các phần giao tiếp với bên ngoài, như viêm mũi, viêm phổi, vú, thận, ruột non, và cơ quan sinh sản như buồng trứng, tử cung, tuyến tiền liệt. Một lớp mỡ đặc cũng có thể tụ lại dưới da. Nếu cứ thế, tình trạng sẽ nghiêm trọng hơn như viêm xoang mũi, u vú, ho mãn tính và lồng ngực tắc nghẽn, sạn thận, bướu nhỏ ở ruột non, bướu tử cung, u xơ tử cung và phình tuyến tiền liệt. Da khô cứng dần dần do mỡ đã hình thành dưới bề mặt của cơ thể.
Khi sự tiêu thụ các thực phẩm mất cân bằng tiếp tục theo chiều hướng này, các chất thặng dư sẽ bắt đầu tiếp tục ở các phần sâu của cơ thể, gồm các mạch máu, ở các cơ quan như tim, gan, lá lách và tụy tạng.
Cũng như giai đoạn này, chất thặng dư cũng thường đóng ở chung quanh các khớp, gây nên sự thoái hóa khớp thường được thấy trong các bệnh viêm khớp.
Khối lượng và chất lượng của các chất thặng dư xác định được vị trí các khớp bị tổn hại. Viêm khớp không phải là tình trạng đơn lẻ, mà chỉ là một phần tiến trình của toàn bộ cơ thể. Bởi thời gian các khớp bị thoái hóa thường song song với sự tích tụ phát triển ở các cơ quan, làm hạn chế toàn bộ các chức năng của chúng.
Ví dụ như, nhiều bệnh nhân viêm khớp cùøng lúc chịu tình trạng thoái hóa khớp cùng với các căn bệnh như áp huyết cao, trẻo phị, cứng động mạch, tiểu đường, và các bệnh tim mạch và ung thư.
Viêm khớp chỉ là một trong số nhiều triệu chứng của sự hư hỏng khắp cơ thể những kết quả từ những thực phẩm mất quân bình và lối sống sai lệch của chúng ta.
Ngày nay tiến trình bệnh tật này thường bắt đầu từ ngay khi còn ít tuổi. Người ta đã tìm thấy những vết mỡ trong động mạch của các trẻ thơ. Hơn thế nửa, một tỷ lệ cao trẻ em Mỹ quá cân cho thấy việc hình thành các chất mỡ và các chất thặïng dư khác đã xuất hiện quá sớm mà không cần chờ đợi tuổi tác. Cũng thời gian này, nhiều trẻ em và thanh thiếu niên nhiễm bệnh cứng khớp. Lớp trẻ trong các nước tân tiến thường thiếu sự mềm dẻo ở các khớp so với người lớn đã trưởng thành sống trong các vùng mà các thực phẩm chế biến hiện đại chưa được phổ biến. Theo ý nghĩa này, nhiều người trong thế giới tân tiến đã trở nên già đi một cách không bình thường trước tuổi của mình.


--------------------
________Ngọc Trâm_________
Go to the top of the page
 
+Quote Post
Diệu Minh
bài Apr 19 2007, 12:43 PM
Bài viết #3


Bạn của mọi người
***

Nhóm: Administrators
Bài viết: 12,699
Gia nhập vào: 13-February 07
Từ: 103 ngách 2 ngõ Thái Thịnh I
Thành viên thứ.: 5



CHƯƠNG 5
CHỮA TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP
Trong Chương 4 chúng ta đã biết tổng quát các món ăn tiêu chuẩn theo phương pháp dưỡng sinh: những món ăn này đủ để ngăn ngừa sự phát triển nhiều dạng bệnh viêm khớp và cũng là nền tảng để tạo sức khỏe. Tuy nhiên, khi đã bị bệnh rồi, vẫn phối hợp theo như sau đây trong nhiều tháng hoặc cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện, khi đó dùng các thức ăn tiêu chuẩn trở lại.
Cả hai loại viêm khớp âm và dương đều phản ảnh sự thái quá hoặc sự mất quân bình trong toàn cơ thể, do vậy điều quan trọng là tránh ăn các thực phẩm lệch làm cân bằng. Cố gắng phối hợp cân bằng và dùng cả hai loại năng lượng trong mỗi bữa ăn, sắp xếp cân bằng và hài hòa, thẩm mỹ từ màu sắc, kết cấu cho đến hương vị.

v Lời khuyên tổng quát đối với bệnh viêm khớp :
1. Tránh dùng các thực phẩm quá âm hoặc quá dương, tốt nhất là chỉ ăn thực phẩm nấu chín, dù có thể dùng chút ít rau trụng nấu sơ. Thức ăn động vật và trái cây tốt nhất là hạn chế tối thiểu và dùng chút ít muối biển, tương đặc (mi so), tương cổ truyền (tamari soy sauce) để nêm thức ăn.
2. Khi chọn rau củ, cần tránh dùng khoai tây, cà chua, cà tím, rau dền, củ cải đường, quả bơ, zucchini và nấm (ngoại trừ nấm sồi Shiitake). Thức ăn chính phải gồm ngũ cốc lứt, phụ thêm là các món rau, đậu, rong biển và một phần rất nhỏ thức ăn động vật như cá và hải sản nếu đòi hỏi, và thỉnh thoảng một ít trái cây nấu chín hoặc trái cây khô.
3. Món ăn đặc biệt để chữa bệnh, nấu khô củ cải trắng (daikon) với phổ tai và nêm tương cổ truyền (tamari) cho có vị. Thỉnh thoảng dùng tương đặc nấu với hành tây (scallions) nấu với vài giọt dầu mè làm thức nêm.
4. Dùng các rau cỏ hoang như bồ công anh, cải soon cũng rất tốt, xốt với chút dầu mè, thêm nước và ninh nhỏ lửa.
5. Bệnh viêm khớp thường đi kèm thêm rối loạn đường ruột mạn tính. Do vậy việc nhai nhỏ thức ăn là rất cần thiết, nhai từ 80 đến 100 lần mỗi miếng cơm, cho đến khi thức ăn hoàn toàn thành nước.
6. Nếu bệnh nhân viêm khớp bị bón, cần ăn thêm xu xoa, xà lách nấu, các loại rau xanh hấp hơi, hoặc rau củ xốt với một chút dầu mè. Nếu táo bón dai dẳng có thể bơm thụt ruột bằng nước muối nhạt hoặc nước trà già pha muối.
7. Kỳ cọ khắp người bằng khăn nhúng nước nóng hai lần mỗi ngày. Bắt đầu nơi tay, ngón tay, kế đến cánh tay, vai, cổ, đầu, lưng, bụng, mông và cuối cùng chà xát bàn chân, ngón chân. Nếu khăn nguội đi, nhúng vào nước nóng lại và chà xát cho đến khi da hồng lên cho máu lưu thông khắp cơ thể. Một phần nguyên nhân chính của bệnh nhân viêm khớp là do việc tích tụ quá nhiều các chất mỡ -phần lớn từ nguồn thức ăn động vật và các loại đường đơn - và các chất khoáng xung quanh các khớp. Sự tích tụ này càng tăng lên khi lớp mỡ mỏng hình thành dưới da do tiêu thụ quá trớn mỡ động vật. Các chất thặng dư này thông thường được thải ra qua làn da và như thế làm tắc nghẹt cơ thể. Chà xát cơ thể mỗi ngày sẽ giúp máu lưu thông tốt và làm vỡ các tích tụ nói trên.
8. Trong những ca nghiêm trọng, bệnh nhân cảm thấy bị hóa cứng, bạn nên chà xát cơ thể bằng khăn tẩm nước gừng nóng thay vì chỉ dùng nước nóng. Phải xoa xát hằng ngày từng thời kỳ cho các ca nghiêm trọng hoặc mỗi tuần hai lần với các ca ít nghiêm trọng hơn.
9. Việc đắp gạc gừng lên các khớp hoặc các phần cơ thể bị hóa cứng mỗi ngày sẽ làm giảm đau và tan các chất ứ đọng, ngoại trừ trường hợp bị viêm sưng nóng đỏ thái quá.
Đắp gạc gừng có thể dùng trong các trường hợp nghiêm trọng hơn. Nó cũng hữu ích trong các ca tay và ngón tay bị sưng phồng (dùng ngâm cả tay, chân vào nước gừng nóng khoảng mười phút).
10. Để hỗ trợ thêm cho việc trị liệu bên ngoài đối với các bệnh nhân viêm khớp, đắp gạc gừng theo định kỳ lên vùng bụng. Có thể đắp nhiều lần mỗi tuần hoặc nhiều hơn nữa trong các ca nghiêm trọng. Lẽ dĩ nhiên, cả về việc ăn uống cũng như trị liệu bên ngoài, nên được sự trông nom của một hướng dẫn viên dưỡng sinh có năng lực hoặc của trung tâm dưỡng sinh.
Một lời khuyên nữa là dùng khăn tắm nhúng vào nước gừng nóng, vắt ráo rồi chà xát dọc theo xương sống cho đến khi da đỏ hồng lên (đặc biệt hữu ích cho bệnh viêm khớp ankylosing spondylitis).
Sau đây là những lời khuyên tổng quát cho năm loại viêm khớp chủ yếu, căn cứ trên lý thuyết âm dương đối với các loại viêm khớp thuộc dương hơn như viêm khớp osteoarthritis, ankylosing spondlylitis và phong thấp (gout) thì trong các thực phẩm điều hòa hằng ngày chọn các thức ăn có chứa năng lượng âm nhẹ. Còn đối với các loại viêm khớp âm hơn, như viêm khớp rheumatoid arthritis và viêm lupus thì hãy chú trọng dùng các loại thực phẩm có năng lượng dương hơn.
Xin nói lại là trong mọi tình trạng đều cần cả hai loại năng lượng và điều quan trọng là không được chọn và và nấu nướng thức ăn lệch hẳn về một bên.

v Hướng dẫn kiêng ăn cho các bệnh nhân viêm khớp chủ yếu :
Trong bảng hướng dẫn sau đây, từng loại bệnh nhân khớp được liệt kê cùng với phương pháp kiêng ăn thích hợp, dựa vào các nấu nướng khéo léo và nhai thức ăn mềm nhỏ. Nếu có thể hãy liên hệ với một trung tâm dưỡng sinh để được chỉ dẫn thêm.
Những hướng dẫn sau đây, đã được theo dõi quan sát trong nhiều tháng. Và như vậy chúng cũng không thể được xem như là một bảng kê đơn thuốc. Những bệnh nhân quá trầm trọng được khuyên nên liên hệ với các bác sỹ y khoa thích hợp hoặc các chuyên gia về dinh dưỡng để phối hợp cùng với việc thực hành phương pháp dưỡng sinh.

v Những quy định ăn kiêng cho bệnh viêm khớp Rheumatoid Arthritis :
v Ngũ cốc lứt :
• Gạo lứt hạt ngắn dùng nấu ăn hàng ngày, đây là thức ăn hàng đầu. Có thể nấu gạo với một nhúm muối nhỏ hoặc với 1cm,50 phổ tai cho một tách gạo. Có thể ăn gạo lứt chung với các loại ngũ cốc và đậu nhỏ hạt khác .
• Loại ngũ cốc thứ gồm: Kê, mì lứt, lúa mạch...
• Nui làm bằng lúa mì lứt: (udon), có thể dùng nhiều lần trong tuần với hình thức súp.
• Tránh ăn một thời gian chế phẩm nướng làm từ bột như bánh bích quy, khoai tây rán và đại loại như thế. Có thể dùng bánh mì có chất lượng cao, không ủ bằng men chua mỗi tuần vài lần.
• Bữa ăn điểm tâm có thể dùng cháo đặc bằng cách thêm nước vào cơm gạo lứt thừa hôm trước vàø nấu lại một lúc. Có thể ăn thường xuyên, Tránh ăn bánh cuốn và mì làm từ yến mạch trong thời gian đầu giai đoạn chữa bệnh. Yến mạch lứt nấu chín dùng tốt hơn.

v Súp :
• Dùng hàng ngày một chén súp nêm tương đặc (miso), các loại tương đặc làm từ lúa mạch (mugi) hoặc làm từ đậu nành đều dùng tốt cả. Súp có thể gồm cả rong biển như rong wakarme hoặc phổ tai cùng nhiều loại rau củ đặc biệt: củ cải trắng daikon, các loại rau có lá xanh và rau củ có vị ngọt... Súp nêm nhạt thích hợp dùng hàng ngày.
• Dùng thêm một chén súp gồm nhiều loại như các ngũ cốc lứt hoặc đậu trong ngày để dồi dào thêm nguồn thực phẩm. Nhớ dùng thêm rong biển khi nấu súp.
v Rau củ :
• Tất cả các dạng rau củ lá, củ tròn và rễ đều được dùng mỗi ngày, thay đổi các dạng nấu nướng. Tuy nhiên, rễ và lá củ cải trắng daikon đặc biệt hữu ích cho bệnh viêm khớp loại này nên dùng thường xuyên.
• Trong tháng đầu tiên trị bệnh, tốt nhất là không nên dùng dầu. Qua tháng thứ hai, mỗi tuần được dùng dầu một lần và hai lần mỗi tuần vào tháng thứ ba.
• Tốt nhất là không nên dùng rau xà lách sống nếu triệu chứng bệnh viêm khớp chưa thuyên giảm, tuy nhiên rau xà lách luộc và hấp có thể dùng ăn mỗi ngày hoặc cách ngày.
• Món làm từ ngưu bàng và cà rốt (Kimpira) và rau củ hầm hữu ích cho tình trạng này, dùng ăn vài lần mỗi tuần.
• Các loại rau củ như củ cải trắng (daikon), củ cải vàng (turnip), củ cà rốt đều rất hữu ích.

v Đậu và các chế phẩm từ đậu :
• Đậu hạt nhỏ (xích tiểu đậu, đậu chim, đậu hòa lan và đậu nành đen) có thể dùng hàng ngày chừng nửa chén.
• Những loại đậu hạt lớn tốt nhất là không nên dùng trong tháng điều trị đầu tiên, qua tháng thứ hai có thể dùng hai ba lần/tháng.
• Tương đậu nành (tempeh) và tàu hũ ky có thể dùng ăn cách ngày trong nhiều món ăn khác nhau.
• Đậu hũ tươi dùng một hoặc hai lần mỗi tuần.
v Rong bieơn :
• Rong wakame và phoơ tai (kombu) được dùng thường xuyeđn moêi ngày dưới dáng súp, nâu với rau cụ và đaơu.
• Rong arame và tóc tieđn (hiziki) hai ba laăn moơt tuaăn và moơt lá rong nori rang dùng moêi ngày.
• Nói chung rong bieơn được dùng moêi ngày với moơt lượng nhỏ.

v Gia vị :
• Muôi mè, boơt rong bieơn được dùng với sô lượng nhỏ hàng ngày. Muôi mè được làm theo tỷ leơ mười sáu mè moơt muôi.
• Mơ muôi dưỡng sinh (umebosi) hai hoaịc ba laăn hàng tuaăn.
• Lá tía tođ và rong nori rang hữu ích dùng làm gia vị phú, moêi tuaăn hai ba laăn. Món xào khođ đaịc bieơt tekka cũng vaơy.
• Trong thời kỳ các khớp đau đớn, tôt nhât là tránh dùng giâm mơ muôi và giaẩm gáo.

v Dưa cại daăm muôi :
• Dùng moêi ngày moơt sô lượng nhỏ dưa daăm leđn men hoaịc dưa daăm theo kieơu người Đức (Sauerkraut).
• Các lối dưa chua quá, caăn hán chê cho đên khi beơnh tình thuyeđn giạm.
• Nêu dưa daăm quá maịn, rửa sách muôi baỉng nước lã trước khi aín.
• Cụ cại traĩng (daikon) dùng aín nhieău laăn trong tuaăn rât tôt, chư caăn vài miêng là đụ.

v Cá và hại sạn :
• Chư aín cá thịt traĩng, moơt hoaịc hai laăn moêi tuaăn nêu đòi hỏi. Cá hâp, nướng, nâu súp.
• Các và hại sạn nêu dĩn aín với cụ cại traĩng hoaịc cà rôt náo rât tôt.
v Trái cađy :
• Trong trường hợp vieđm sưng đỏ, neđn hán chê tôi đa trái cađy và nước trái cađy tươi.
• Nêu còn thèm, có theơ dùng tráng mieơng moơt ít trái cađy phương Baĩc nâu chín, nhieău laăn trong tuaăn.
• Trái cađy khođ như nho và táo tađy khođ dùng thưnh thoạng với sô lượng nhỏ.
• Trong các trái cađy phương Baĩc, trái đào khođ hoaịc đào (peache) nâu chín đaịc bieơt hữu ích cho beơnh và có theơ dùng thường. Đào tươi chư neđn dùng ít vào lúc hè với moơt chút muôi.

v Quạ hách :
• Các lối quạ hách (nuts) và quạ hách bơ tređn tránh aín cho đên khi beơnh tình được cại thieơn.
• Hát dẹ khođ được dùng đođi khi nâu với cơm gáo, nêp hoaịc xích tieơu đaơu cho có vị ngĩt.
v Hát :
• Hát mè, bí ngođ, bí đao rang sơ được dùng với sô lượng nhỏ.
• Hát hướng dương, tôt nhât là tránh aín hoaịc chư dùng moơt ít trong mùa há.
v Các thức aín phu ï:
• Dùng được moơt ít thức aín phú như baĩp rang, bánh gáo, và ngũ côc rang phoăng.
• Bánh Sushi, bánh gáo nhoăi, nui và bánh mì làm baỉng men chua dùng thưnh thoạng như thức aín phú với sô lượng ít.

v Rau cụ ngĩt : Nhieău lối rau cụ ngĩt như cà rôt, bí, cụ hành tađy và baĩp cại được dùng nâu aín hàng ngày.

v Các thức ngĩt :
• Mách nha gáo lứt thích hợp dùng làm chât ngĩt cho beơnh này. Moêi tuaăn dùng vài muoêng cà pheđ mách nha này vào lúc aín sáng với ngũ côc, trà hoaịc dùng khi aín tráng mieơng.

v Nước uông :
• Lúc khát có theơ uông trà già, nước suôi và trà ngũ côc. Các lối khác chư dùng thưnh thoạng.
• Moêi tuaăn moơt hai laăn uông nước ép cà rôt, khođng dùng với đá lánh. Tuy nhieđn, khi các khớp đang đau đớn neđn ngưng dùng moơt thời gian.
v Gia vị neđm :
• Tương đaịc (mi so), tương coơ truyeăn (tamari soy sauce), muôi bieơn và các thức dùng neđm thức aín tôt nhât là dùng ít trong lúc nâu nướng.
• Các lối gia vị khác có tính kích thích, như là gừng và cụ cại ngựa (horse radish) caăn giạm tôi thieơu trong thời gian này.
v Các thức uống đặc biệt :
• Nước ép rau củ ngọt dùng ngày một tách.
• Mơ muối-sắn dây-tương (ume- Sho-kuzu); mỗi tuần 2 lần, trong nhiều tuần.
• Củ cải trắng (daikon) mài (1/3 tách) thêm cà rốt mài (1/2 tách) thêm nước cho vừa một tách, mỗi tuần dùng nhiều lần và chỉ dùng trong một tháng, các thành phần này đem đun nhỏ lửa trong hai hay ba phút, nêm vài giọt tương cho có vị
• Trà gạo lứt rang có thể dùng xen kẽ với trà già ba năm (bancha) làm thức uống căn bản cho bệnh này.

v Săn sóc tại nhà:
• Nếu các khớp bị viêm sưng, nóng, dùng lá rau xanh hoặc dùng đậu hũ và lá rau xanh (lượng bằng nhau) nghiền nhỏ đắp thẳng vào khớp đau.
v Các đề nghị thêm :
• Dùng khăn nhúng nước nóng, vắt ráo chà xát khắp người mỗi ngày, sáng và tối trước khi đi ngủ.
• Nhai thật nhỏ, cho đến khi thức ăn hóa thành nước mới nuốt.
• Đừng tắm quá lâu nhất là tắm bằng vòi sen.
• Các vật trang sức như nhẫn, đồng hồ và các loại làm bằng kim khí tốt nhất là đừng đeo, đặc biệt nhất là ở các vùng khớp đau.

v Các đề xuất kiêng ăn cho bệnh viêm khớp LUPUS :
v Ngũ cốc lứt :
• Gạo lứt hạt ngắn nấu với nồi áp hơi được dùng mỗi ngày, dùng riêng hay nấu chung với ngũ cốc khác hoặc với các loại đậu hạt nhỏ.
• Loại ngũ cốc kế tiếp nên dùng là lúa mạch, kê, bắp trái (đúng mùa).
• Bột mì lứt và chế phẩm như nui, udon, được dùng nhiều lần mỗi tuần, dùng với nước súp.
• Nui làm từ kiều mạch (soba) và kiều mạch lứt (kasha), ăn mỗi tuần một lần giúp bệnh mau mạnh. Tuy nhiên nếu đồng thời lại đang mang bệnh ngoài da thì không được dùng.
v Súp :
• Dùng mỗi ngày một chút súp, nêm với tương đặc (mugi hoặc Hatcho miso), rong wakame và phổ tai cùng nhiều loại rau củ đều được cả.
v Rau củ :
• Các loại rau củ được dùng mỗi ngày. Rễ ngưu bàng đặc biệt tốt cho bệnh viêm khớp Lupus, có thể dùng nhiều lần mỗi tuần.
• Tránh ăn xà lách sống trong một thời gian, nếu hấp hoặc nấu lên thì được dùng ăn mỗi ngày.
• Trong tháng đầu tránh không được dùng dầu. Qua tháng thứ hai và thứ ba được dùng dầu mỗi tuần một lần.

v Các món ăn đặc biệt, rất hữu ích cho bệnh gồm:
• Xích tiểu đậu nấu với bí và phổ tai, ngưu bàng và cà rốt kimpira, củ cải trắng daikon, củ cải turnip nấu luôn cả phần chóp xanh của củ. Củ cải khô daikon nấu với phổ tai và các món hầm.

v Đậu và các chế phẩm từ đậu :
• Dùng đậu nhỏ, có chứa lượng mỡ thấp (xích tiểu đậu, đậu.
chim, đậu hòa lan, đậu nành đen) được dùng mỗi ngày nửa chén.
• Tránh ăn các loại đậu hạt lớn trong tháng đầu điều trị bệnh, qua các tháng sau được dùng một lần mỗi mười ngày.
• Các chế phẩm từ đậu như đậu lên men, đậu hũ và tàu hũ ky được dùng mỗi tuần ba bốn lần.

v Rong biển :
• Phổ tai và rong wakame được dùng mỗi ngày dưới dạng súp, nấu với rau củ, với đậu...
• Rong tóc tiên (hiziki) hoặc rong arame mỗi tuần dùng hai ba lần.
• Mỗi ngày dùng thêm một lá rong nori rang, dùng với cơm nhồi hoặc là thức ăn phụ.
v Gia vị :
• Muối mè và bột rong biển được dùng mỗi ngày. Muối mè được làm theo tỷ lệ mười sáu phần mè với một phần muối biển. Nếu dược dùng mè đen càng tốt.
• Mơ muối (umeboshi) được dùng ba bốn lần mỗi tuần, dùng với ngũ cốc lứt hoặc trà.

v Hai loại gia vị đặc biệt nên dùng nhiều lần mỗi tuần:
• Phổ tai + tương và rong nori (mỗi lần một hoặc hai miếng
tương + phổ tai hoặc một muỗng trà rong nori).
• Trong ca viêm nóng đỏ, tránh dùng dấm gạo và dấm mơ muối cho đến khi bệnh tình được cải thiện.
• Món xào Tekka, làm từ cà rốt, ngưu bàng, củ sen và tương đặc miso rất tốt dùng ăn với gạo lứt hoặc ngũ cốc khác hai, ba lần mỗi tuần, dùng với số lượng ít.

v Dưa cải dầm muối :
• Mỗi ngày dùng một lượng nhỏ dưa cải dầm muối vào mỗi bữa ăn, nếu dưa mặn quá rửa sạch dưới vòi nước trước khi dùng.
• Tránh ăn các loại dưa dầm mặn quá hoặc chua quá.

v Cá và hải sản :
• Mỗi tuần một hay hai lần dùng một lượng nhỏ cá thịt trắng nếu cần.
• Nếu bệnh nhân quá yếu và thiếu sức sống, nấu súp cá chép (koiKoku) ăn trong nhiều ngày (một chén mỗi ngày), và lặp lại trong một hai tuần sau.

v Trái cây :
• Nếu còn thèm, mỗi tuần ăn vài lần trái cây nấu chín (trái cây phương Bắc).
• Tránh ăn trái cây tươi cho đến khi bệnh tình được cải thiện.
• Hạt dẻ khô nấu với gạo lứt, gạo nếp lứt hoặc xích tiểu đậu là thích hợp nhất. Có thể dùng ăn nhiều lần mỗi tuần nếu thích.

v Quả hạch: (nuts) :
• Tốt nhất là không ăn quả hạch hoặc quả hạch bơ cho đến khi bệnh tình được cải thiện. Sau đó thỉnh thoảng dùng với số lượng nhỏ.

v Các loại hạt :
• Dùng một lượng nhỏ như mè, hạt bí ngô, bí đao như là một món ăn phụ.
• Hạt hướng dương tránh ăn ngoại trừ vào mùa hè được dùng với số lượng nhỏ.

v Các món ăn phụ :
• Cẩn thận đừng ăn quá nhiều các món bánh nướng khô như bánh gạo, bắp rang, ngũ cốc rang phồng. Các loại này có thể gây cơn khát nước hoặc thèm các món ngọt.
• Các món ăn phụ khác nên dùng rất ít.

v Rau củ ngọt :
• Các rau củ có vị ngọt như củ hành, bí, cà rốt và bắp cải được dùng nấu ăn mỗi ngày.

v Các thức ngọt :
• Giới hạn dùng các thức ăn ngọt như mật gạo, mạch nha lúa mạch, nếu thèm quá dùng vài lần mỗi tuần với số lượng nhỏ.
• Các loại chất ngọt thiên nhiên, các bon hy drát hoặc đường có trong cà rốt đặc biệt hữu ích với bệnh này. Cà rốt ninh nhỏ lửa làm bơ cà rốt hoặc bột cà rốt đặc. Dùng ăn mỗi tuần nhiều lần với bánh mì, bánh gạo hoặc dùng làm gia vị ngọt, có thể pha làm thức uống.

v Các loại nước khoáng :
• Trà cọng bancha, trà ngũ cốc, cà phê ngũ cốc được uống nếu cần.
• Nước ép cà rốt (chừng nửa tách), mỗi tuần dùng vài lần và khi triệu chứng bệnh đã biến chuyển, có thể dùng thêm:

v Các thức nêm :
• Tương cổ truyền dùng với lượng ít.
• Gừng và củ cải ngựa, tránh dùng cho đến khi bệnh tình đã thuyên giảm.

v Thức uống đặc biệt :
• Nước ép rau củ ngọt, mỗi ngày khoảng một tách.
• Sắn dây+mơ muối+tương mỗi tuần hai lần trong ba tuần.

v Chăm sóc tại nhà :
• Áp gạc gừng (hoặc khăn nước nóng (từ 10 đến 15 phút) lên vùng thận (giữa lưng) và vùng ruột (phần bụng dưới) để làm mạnh các cơ quan này và tăng chức năng loại trừ các chất thặng dư. Những cách áp gạc này được dùng hai ba lần mỗi tuần trong vòng sáu tuần.

v Các đề nghị khác :
• Nhai thật kỹ cho đến khi thức ăn biến thành nước trong miệng hẵng nuốt.
• Mỗi sáng và trước khi đi ngủ, dùng khăn nhúng nước nóng vắt ráo chà xát khắp người.
• Đi bộ mỗi ngày nửa giờ được xem như là một hình thức tập luyện.
• Đừng tắm quá lâu nhất là dưới vòi tắm sen.
• Nếu có thể dùng càng nhiều càng tốt các loại ngũ cốc, đậu và rau củ.

v Kiêng ăn cho bệnh viêm khớp Osteoarthritis :

v Ngũ côc lứt : Moêi ngày dùng gáo lứt hát ngaĩn, nâu noăi áp suât theđm chút muôi. Có theơ nâu chung gáo lứt với các lối ngũ côc khác hoaịc đaơu hát nhỏ.
• Lúa mách, đaịc bieơt là ý dĩ (pearl barley) rât hữu ích cho beơnh này, moêi tuaăn dùng hai ba laăn với gáo hoaịc dưới dáng súp.
• Có theơ dùng theđm keđ, baĩp trái (đúng mùa)
• Hán chê dùng bánh boơt nướng. Nêu thèm aín bánh mì neđn chĩn những lối có chât lượng thieđn nhieđn (khođng làm baỉng men), moêi tuaăn nhieău laăn và tôt nhât hâp leđn cho meăm.
• Tôt nhât neđn tránh dùng yên mách, cũng như các lối bánh nướng giòn, bánh tráng gáo cho đên khi có biên chuyeơn tôt. Nêu thích aín yên mách (oats), nâu yên mách suôt qua đeđm với ngĩn lửa rât nhỏ mà dùng.
• Nui, thích hợp là nui lúa mì lứt (udon) được dùng nhieău laăn trong tuaăn với nước súp.

v Súp : Dùng súp tôt nêu chư neđm nhát, tránh vị maịn quá.
• Moêi ngày moơt chén súp tương đaịc miso dùng với rong bieơn wakame, phoơ tai và các lối rau cụ (nhât là cụ cại daikon, nâm soăi shiitake và các lối rau có lá xanh).
• Có theơ theđm gia vị leđn tređn súp miso với hành tađy, ngò, lá thơm.
• Các lối súp khác dùng moêi ngày phú theđm chừng moơt chén.
v Rau cụ :
• Các lối rau cụ đa dáng được dùng hàng ngày, caăn phôi hợp hài hòa và lưu ý cách nâu nướng.
• Boă cođng anh nâm đaịc bieơt hữu ích và moêi tuaăn dùng hai ba laăn là thích hợp.
• Tôt nhât là tránh aín xà lách tươi sông cho đên khi beơnh thuyeđn giạm, tuy nhieđn xà lách nâu và hâp hơi dùng tôt cho beơnh vieđm khớp có theơ dùng hàng ngày. Thưnh thoạng có theơ dùng chút ít xà lách tươi lúc beơnh đã đỡ.
• Tháng đaău trị beơnh tôt nhât là tránh dùng daău khi nâu aín. Qua tháng thứ nhì, moêi tuaăn có theơ dùng vài laăn daău mè với sô lượng ít.

v Đaơu và các chê phaơm từ đaơu :
• Đaơu hát nhỏ (xích tieơu đaơu, đaơu chim (chickpea), đaơu hòa lan và đaơu nành đen), được dùng moêi ngày.
• Các chê phaơm từ đaơu được dùng moêi ngày hay cách ngày.
• Nêu beơnh nhađn maơp, tránh aín các lối đaơu hát lớn trong tháng đaău trị beơnh, sau đó moêi tuaăn hoaịc mười ngày được dùng moơt laăn.

v Rong bieơn :
• Phoơ tai và rong bieơn wakame được dùng với súp moêi ngày, với rau cụ và đaơu..
• Rong bieơn tóc tieđn (hiziki) hoaịc rong arame. Moêi tuaăn dùng hai hoaịc ba laăn như là moơt món phú..
• Moêi ngày aín moơt lá rong nori rang.

v Gia vị neđm :
• Muôi mè và boơt rong bieơn được dùng moêi ngày. Muôi mè làm theo tư leơ mười sáu mè moơt muôi (muôi bieơn).
• Mơ muôi (umeboshi) moêi tuaăn dùng hai ba laăn, ngoài ra có theơ neđm chút ít giâm gáo hoaịc giâm mơ muôi.

v Dưa cại daăm chua :
• Moêi ngày aín chút ít. Nêu dưa maịn quá caăn rửa sách muoẫi trước khi aín.
• Các lối dưa cại daăm nhanh, lát, được dùng nhieău hơn.

v Cá và hại sạn :
• Moêi tuaăn có theă dùng moơt ít lối cá thịt traĩng (moơt đên hai laăn).
• Trai sò và các lối cá có mỡ nhieău (như cá ngừ, cá hoăi) tôt nhât tránh aín cho đên khi beơnh tình thuyeđn giạm.
• Cá có theơ dùng dưới hình thức nâu, chưng hoaịc với súp miso.

v Trái cađy :
• Trái cađy phương Baĩc nâu chín được dùng aín tráng mieơng ba laăn moêi tuaăn.
• Mơ muôi rât hữu ích có theơ dùng nâu trong các món tráng mieơng (dùng thưnh thoạng).
• Tránh aín trái cađy tươi trong giai đốn đaău trị beơnh.

v Quạ hách :
• Nêu beơnh tình chưa thuyeđn giạm neđn tránh aín quạ hách và quạ hách bơ, sau đó chư dùng làm thức aín phú thođi.
v Hát :
• Hát mè, hát bí rang sơ được aín moơt ít. Đừng làm cháy các hát khi rang.
• Hát hướng dương neđn tránh aín, trừ lúc mùa hè được dùng moơt lượng nhỏ.

v Các thức aín phú ï:
• Caơn thaơn đừng aín quá nhieău thức aín khođ, nướng như bánh gáo, baĩp rang và ngũ côc rang phoăng.
• Các lối thức aín phú khác nêu thích dùng moơt ít..

v Rau cụ ngĩt :
• Các lối rau cụ ngĩt đeău được dùng nâu aín moêi ngày.

v Các chât ngĩt khác :
• Moêi tuaăn dùng được mách nha lúa mách nhieău laăn, moêi laăn moơt ít (moơt muoêng trà), các buoơi aín sáng với cháo đaịc, trong buoơi aín tráng mieơng hoaịc với trà.
• Hát dẹ khođ có theơ nâu với gáo lứt và xích tieơu đaơu, thưnh thoạng dùng thê chât ngĩt.
v Các thức uông :
• Trà cĩng bancha, nước suôi, trà ngũ côc dùng hàng ngày, nhieău ít tùy theo từng người.
• Trà lúa mách rang (mugicha) hoaịc trà ý dĩ (hato mugicha) đaịc bieơt tôt cho beơnh này có theơ dùng xen kẹ với trà già bancha như là moơt thức uông chính.

v Gia vị :
• Dùng ít gia vị khi nâu nướng.
• Các lối gia vị có tính kiùch thích mánh như gừng và cụ cại ngựa (horseradish) neđn tránh cho đên khi beơnh tráng thuyeđn giạm.

v Các thức uông đaịc bieơt :
• Moêi ngày dùng được moơt tách nước súp rau cụ ngĩt trong moơt tháng hay lađu hơn nêu caăn.
• Trong tháng đaău trị beơnh, chê thức uông với cụ cại daikon mài (1/3 tách), cà rôt mài (1/3 tách) theđm 1/3 tách nước nâu nhỏ lửa trong hai hay ba phút, neđm vài giĩt tương tamari cho có vị. Moêi tuaăn uông từ hai đên ba laăn.
• Đaịc bieơt hữu ích là trà boă cođng anh (dandelion), có theơ tìm mua trong các cửa hàng bách hóa thực phaơm. Moêi tuaăn uông ba hay bôn laăn phú theđm với các thức uông khác.

v Chaím sóc tái nhà :
• Đaĩp gác nước nóng hoaịc gác gừng leđn các khớp bị đau sẽ kích thích tuaăn hoàn máu và làm giạm đau nhức.

v Các đeă nghị khác :
• Quan trĩng nhât văn là nhai thức aín cho thaơt nhỏ đeơ thức aín biên thành nước trong mieơng hãy nuôt.
• Sáng sớm và tôi trước khi đi ngụ, chà xát khaĩp người với moơt khaín nóng.
• Taơp luyeơn, đi boơ moêi ngày nửa giờ đoăng hoă.
• Moêi ngày có theơ taĩm nhanh dưới vòi sen.
v Kieđng aín trị beơnh vieđm khớp Ankylosing Spoudylitis:
v Ngũ côc lứt :
• Gáo lứt hát ngaĩn được dùng moêi ngày, lối gáo hát vừa dùng phú thưnh thoạng. Gáo lứt dùng rieđng hoaịc phôi hợp với các ngũ côc khác và đaơu.
• Tôt nhât là đừng nâu cho đên khi khođ quá, neđn nâu nhão moơt chút.
• Lối ngũ côc thứ nhì được dùng goăm: lúa mì và lúa mách.
• Baĩp trái (ngođ)
• Tránh aín các chê phaơm từ boơt như bánh nướng, bánh xôp, bánh mì khođng có men chua dùng được nhieău laăn trong tuaăn.
• Nêu thích aín yên mách (oats), haăm nhỏ lửa yên mách lứt qua đeđm và dùng aín đieơm tađm.
• Mì nui udon lứt có theơ dùng nhieău laăn trong tuaăn với sôt tamari nhát.
• Tránh aín nui kieău mách (Buckwheat) và cạ kieău mách lứt cho đên khi tình tráng beơnh thuyeđn giạm.

v Súp :
• Moêi ngày dùng moơt chén súp neđm tương đaịc miso, nâu với rong bieơn wakame hoaịc phoơ tai và các lối rau cụ khác nhau. Cụ cại daikon và nâm soăi có theơ nâu chung với súp miso.
• Có theơ dùng theđm moơt chén súp chư có các lối gia vị và gia vị neđm. Moêi tuaăn được dùng nhieău laăn súp baĩp và các lối rau cụ.
• Nhớ đừng queđn cho theđm moơt maơu nhỏ rong bieơn vào súp khi nâu.

v Rau cụ :
• Moêi ngày nâu phôi hợp và theo nhieău cách các lối rau cụ goăm cạ lá, reê và các lối cụ tròn, đeău dùng được.
• Dưa chuoơt (cucumber) rât tôt đeơ làm eđm dịu các tình tráng co cứng, được dùng nhieău laăn trong tuaăn, dùng trong món xà lách hoaịc dùng theo hình thức muôi dưa.
• Hán chê tôi đa vieơc dùng daău đeơ nâu aín trong nhieău tuaăn leê đaău trị beơnh.
• Xà lách nâu và hâp hơi còn xanh hữu ích cho beơnh được dùng hàng ngày.

v Đaơu và chê phaơm từ đaơu : Đaơu hát nhỏ (xích tieơu đaơu, đaơu chim, đaơu hòa lan, đaơu nành đen) và chê phaơm từ đaơu được dùng cách ngày. Moêi ngày đoơ nửa chén.
• Các lối đaơu hát lớn chư được dùng hai, ba laăn moêi tháng.
v Rong bieơn :
• Phoơ tai và rong wakame có theơ dùng aín moêi ngày dưới dáng súp, nâu với rau cụ và đaơu.
• Rong tóc tieđn Hiziki hoaịc rong arame có theơ dùng làm thức aín phú moêi tuaăn hai ba laăn.
• Moêi ngày dùng moơt lá nori rang dùng aín với cơm nhoăi (Riceballs), bánh sushi hoaịc dùng như moơt lối trang trí.

v Gia vị neđm :
• Muôi mè và boơt rong bieơn được dùng moêi ngày. Tỷ leơ muôi mè là 16 mè 1 muôi.
• Mơ muôi dùng aín moêi tuaăn hai ba laăn.
• Neđn tránh aín giâm gáo và giâm mơ trong lúc đau nhức.
• Các thức dùng neđm khác có theơ dùng nhieău laăn trong tuaăn.

v Dưa cại muôi :
• Các lối dưa cại daăm lát, nhanh, tự nhieđn khođng gia vị thích hợp dùng với sô lượng nhỏ moêi ngày. Nêu dưa maịn quá, rửa thaơt sách muôi trước khi dùng.

v Cá và hại sạn :
• Moêi tuaăn dùng moơt đên hai laăn, moêi laăn moơt ít cá có thịt màu traĩng.
• Các lối cá và trai sò khác neđn tránh aín cho đên khi beơnh tình thuyeđn giạm.
v Trái cađy :
• Trong các lối trái cađy, quạ mơ (apricots) hữu ích cho beơnh vieđm này, có theơ dùng nó nâu với các lối trái cađy phương Baĩc khác, ba laăn moêi tuaăn bình quađn. Thưnh thoạng dùng theđm moơt ít trái mơ khođ hoaịc trái mơ tươi đúng mùa.

v Quạ hách (nuts) :
• Tôt nhât là tránh aín các quạ hách (nuts) và bơ hách (nuts buhers) cho đên khi beơnh đã bớt.
v Hát :
• Dùng aín phú được moơt ít hát mè rang sơ, hát bí ngođ. Quan trĩng là nhớ khođng được aín nhieău quá các lối hát khođ, hát rang.
• Hát hướng dương tránh aín ngối trừ vào lúc mùa hè và chư dùng sô lượng nhỏ.

v Các thức aín phu ï:
• Hán chê các lối bánh khođ, bánh nướng (bánh tráng gáo, baĩp rang, bánh ngũ côc rang phoăng). Tuy nhieđn lúa mì lứt rang phoăng lái hữu ích cho trường hợp này có theơ dùng làm thức aín phú, có theơ dùng rieđng hoaịc dùng với rong amazaké.
• Các lối bánh khác dùng hán chê.

v Rau cụ ngĩt :
• Rau cụ ngĩt được dùng nâu làm thức aín thường ngày.

v Các thức ngĩt khác:
• Nêu còn thích aín ngĩt, moêi tuaăn dùng vài laăn sirođ gáo, mách nha hoaịc amasaké (chât ngĩt làm từ gáo, nêp lứt leđn men).
• Amasaké làm từ lúa mì tôt cho trường hợp này.
• Nâu chung ngũ côc, đaơu với hát dẹ đeơ có chât ngĩt.

v Các thức uông :
• Trà già ba naím (bancha), nước suôi, trà ngũ côc được dùng moêi ngày, sô lượng dùng tùy cơn khát cụa từng cá nhađn.
• Nước ép cà rôt, quạ mơ (apricots) moêi tuaăn dùng moơt, hai laăn nêu thích.
• Tât cạ thức uông neđn dùng khi còn nóng âm.

v Các thức neđm :
• Neđn dùng rât ít các gia vị neđm.
• Tránh các gia vị haíng cay, kích thích như gừng, cụ cại ngựa.

v Các thức uông đaịc bieơt :
• Nước ép rau cụ ngĩt, hai ba laăn moơt tuaăn.
• Cụ cại daikon náo (1/3 chén) theđm cà rôt náo (1/3 chén) moêi tuaăn dùng tươi hoaịc ninh sođi nhỏ lửa uông nhieău laăn, neđm vài giĩt tương tamari cho có vị.
v Chaím sóc tái nhà :
• Chườm khaín nóng, khaín gừng nóng leđn choê đau vùng xương sông, đaịc bieơt nhât là khi có trieơu chứng beơnh xuât hieơn.
• Chà xát thaơt mánh khaĩp xương sông với khaín gác nóng.

v Các đeă nghị khác :
• Nhai thức aín thaơt nhỏ là đieău quan trĩng, thức aín phại hóa thành nước trước khi nuôt.
• Moêi sáng và tôi trước khi ngụ, dùng khaín bođng nóng chà xát khaĩp cơ theơ.
• Taĩm nhanh baỉng vòi sen hoaịc taĩm rửa moêi ngày.
• Nêu có theơ, đi boơ ngoài trời nửa giờ moêi ngày đeơ luyeơn taơp cơ theơ.
• Đừng đeơ cơ theơ nhieêm lánh có theơ gađy sự co cứng cụa các cơ khớp.

v Đeă nghị quan trĩng :
• Đừng neđm thức aín maịn quá, dùng ít các gia vị neđm như muôi, tương đaịc mi so và các gia vị neđm khác.

v Kieđng aín cho beơnh thông phong (Goul)
v Ngũ côc lứt :
• Thức aín chính hàng ngày là gáo lứt. Nâu rieđng
hoaịc chung với các ngũ côc lứt khác hoaịc với xích tieơu đaơu và các lối đaơu khác.
• Ngũ côc phú goăm có keđ, lúa mách lứt, lúa mì lứt.
• Tránh aín các chê phaơm từ boơt như bánh nướng, bánh xôp, bánh bích quy dù là lối có chât lượng tôt cho đên khi beơnh tình đã được cại thieơn.
• Bánh mì chât lượng tôt có theơ dùng nhieău laăn trong tuaăn.
• Nêu thích aín yên mách (oats) có theơ nâu dùng aín bửa đieơm tađm.
• Mì, nui lứt (udon) aín dưới dáng súp được dùng nhieău laăn moêi tuaăn. Trong khi beơnh caăn tránh aín kieău mách (buckwheat) cho đên khi tình tráng thuyeđn giạm.

v Súp :
• Moêi ngày dùng moơt chén súp neđm tương miso nâu với rong bieơn wakame hoaịc phoơ tai và các lối rau cụ, tôt nhât là cụ cại daikon, nâm soăi Shitake và các lối rau lá xanh.
• Có theơ dùng theđm súp keđ, bí và súp xích tieơu đaơu.
v Rau cu û:
• Rau lá xanh, cụ tròn và reê đeău dùng được thay đoơi cách phôi hợp và cách nâu.
• Baĩp cại đaịc bieơt tôt cho beơnh thông phong được dùng thường xuyeđn, cũng như các lối rau cụ ngĩt khác như bí và cụ hành tađy (onions).
• Tránh aín xà lách sông trong thời gian đaău.
• Dùng thaơt ít daău. Nêu vieđm sưng đau phại tránh khođng aín daău moơt thời gian.
• Bí nâu với xích tieơu đaơu và phoơ tai hữu ích trong vieơc cung câp chât ngĩt, moêi tuaăn dùng ba bôn laăn.

v Đaơu và các chê phaơm từ đaơu :
• Moêi ngày được dùng khoạng nửa chén các lối đaơu nhỏ hát như xích tieơu đaơu, đaơu chim (chick peas), đaơu hòa lan.
• Tương đaơu nành leđn men, đaơu hũ, tàu hũ ky và tương soơi (natto) được dùng ba bôn laăn moêi tuaăn.
• Nêu người maơp, tránh aín các lối đaơu lớn hát, đaơu trẹo trong tháng đaău chữa beơnh, sau đó được dùng hàng tuaăn.

v Rong bieơn :
• Rong bieơn phoơ tai và wakame được dùng moêi ngày dưới dáng súp, nâu với rau cụ hoaịc với các món đaơu.
• Rong tóc tieđn (hiziki) hoaịc arame dùng làm thức aín phú hai hay ba laăn moêi tuaăn.
• Moêi ngày aín moơt lá rong mứt (nori) rang.

v Gia vị neđm :
• Muôi mè và boơt rong bieơn được dùng hàng ngày (mười sáu mè moơt muôi).
• Mơ muôi umeboshi, hai hay ba laăn moêi tuaặn.
• Khi các khớp đang đau, tránh dùng giâm gáo và giâm mơ muôi.
v Dưa cại muôi :
• Moêi ngày dùng được moơt ít. Nêu dưa có vị maịn quá rửa sách cho bớt maịn trước khi dùng.

v Cá và hại sạn :
• Sự lám dúng quá trớn chât đám đoơng vaơt gađy neđn beơnh này. Tuy nhieđn, nêu thích dùng moơt lượng nhỏ thịt cá saĩc traĩng moơt hay hai laăn moêi tuaăn cũng tôt. Neđn aín cá với vài muoêng canh cụ cại sông daikon náo dùng như là gia vị.
• Tât cạ các lối hại sạn khác tránh dùng cho đên khi beơnh tình đã thuyeđn giạm.
vTrái cađy :
• Dùng tráng mieơng moêi tuaăn ba ngày các lối trái cađy phương Baĩc nâu, hâp chín.
• Nêu thích, thưnh thoạng aín moơt ít trái cađy tươi và khođ.

v Rau cụ ngĩt :
• Được nâu dùng moêi ngày.
• Nêu thích moêi tuaăn dùng moơt hoaịc hai laăn các chât ngĩt cođ đaịc.
• Nêp leđn men (amasaké) dùng đođi khi.
v Thức uông :
• Trà già ba naím (bancha), nước suôi, trà gáo dùng moêi ngày.
• Nước ép cà rôt được dùng nhieău laăn moêi tuaăn nêu thích.
• Tránh uông các lối thức uông lánh và khođng neđn uông quá nhieău nước.
v Thức neđm :
• Neđn neđm nhát thức aín. Các lối gia vị kích thích như gừng, cụ cại ngựa neđn tránh cho đên khi beơnh thuyeđn giạm.
v Thức uông đaịc bieơt :
• Moêi tuaăn dùng hai ba laăn nước sôt rau cụ ngĩt.
• Trong tháng đaău trị beơnh, pha 1/3 cà rôt náo, 1/3 cụ cại traĩng daikon náo, theđm nước ninh nhỏ lửa từ hai đên ba phút, neđm vài giĩt tương tamari cho có vị. Moêi tuaăn uông hai ba laăn.
• Trà rong bieơn phoơ tai cũng được uông nhieău laăn moêi tuaăn cho đên khi beơnh thuyeđn giạm.

v Chaím sóc tái nhà:
• Nghieăn baỉng côi đât 1/2 đaơu hũ và 1/2 rau xanh tươi đaĩp thẳng vào vùng đau.
• Rau xanh hoaịc đaơu hũ có theơ dùng đaĩp rieđng từng lối hai, ba laăn moêi tuaăn leđn khớp đau trong moơt tháng.
• Trong moơt tháng đaău trị beơnh, áp gác gừng nóng leđn vùng thaơn hai laăn moêi tuaăn.

v Các đeă nghị khác :
• Nhai nhỏ cho đên khi thức aín biên thành nước mới nuôt là đieău quan trĩng nhât.
• Chà xát baỉng khaín nóng moêi sáng và trước khi ngụ.
• Moêi ngày đi boơ nửa giờ đeơ taơp luyeơn cơ theơ.
• Taĩm và taĩm nhanh dưới vòi sen moêi ngày đeơ veơ sinh cơ theơ.
• Tôt nhât là khođng neđn hút thuôc.
• Nêu vùng ngón cái vieđm đau, thường xạy ra trong nhieău ca thông phong, rât neđn mang tâtcođ ton đeơ bạo veơ.



--------------------
________Ngọc Trâm_________
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 người đang đọc chủ đề này (1 khách và 0 thành viên dấu mặt)
0 Thành viên:

 



.::Phiên bản rút gọn::. Thời gian bây giờ là: 16th September 2019 - 12:56 AM