![]() ![]() |
Mar 11 2008, 09:56 AM
Bài viết
#1
|
|
![]() The last... ![]() ![]() ![]() Nhóm: Administrators Bài viết: 1,325 Gia nhập vào: 10-February 07 Thành viên thứ.: 4 |
Trước hết tôi xin kể sơ tiểu sử của Krishnamurti. Nhiều nét phải trích nguyên văn hoặc trong tập “Kỷ yếu hội ngôi sao” hoặc trong quyển “Krishnamurti, giáo chủ thế giới” của Ludovie Réhault . Krishnamurti sinh năm 1895 tại Madanapalle (quận Madnepalli) gần Madras, giòng Bà la môn. Tộc danh Ngài là Jiddu, nhưng theo tục lệ trong đẳng cấp của Ngài (tương tự như các tục lệ trong hoàng gia Âu châu), người ta gọi Ngài bằng tục danh Krishnamurti. Tục danh này có nghĩa là “tướng của Krishna) và Ngài cũng là người con trai thứ 8 trong gia đình như thần Krishna. Thân mẫu Ngài, rất hiền lành, nhưng sớm qua đời. Thân phụ Ngài, công chức cao cấp trong cơ quan hành chính của người Anh, chẳng bao lâu sau đó bị sa thải và lâm vào cảnh khốn cùng với chín người con. Dường như hoàn cảnh ấy cũng đã khiến người cha trở nên khắc nghiệt vô cùng và các con ông đã nhận roi vọt nhiều hơn là cơm áo. Do bản tính trầm tư, Krishnamurti bị ngược đãi hơn hết và vì thế ông đã trở nên nhút nhát thái quá. Krishnamurti cùng em trai nhỏ Nityananda đói rách, lang thang trên những đường phố và bãi biển miền Bengale. Theo lời Réhault, chính trên bãi biển này, ông Van Manen quản thủ thư việc của trụ sở Trung Ương Hội Thông Thiên Học, đã chú ý đến hai đứa trẻ và trình diện chúng với bà Hội trưởng. Hội này do bà Helena Petrona Blavatsky sáng lập năm 1875, có mục tiêu chính là phổ biến khắp thế giới một giáo lý tổng hợp tất cả những giáo pháp của Ấn Độ, mặc dù những bình nghị khác nhau. Vào giai đoạn Krishnamurti đang lang thang, hội Thông Thiên Học do bà Annie Besant làm chủ tịch (Bà trước đó là một trong những người sáng lập đảng Lao động, nổi danh khắp thế giới). Bà Besant có một phụ tá là ông Charles Wakter Leadbeater, mục sư công giáo Anh, dường như được thiên phú Thần thông . Đúng vào lúc Krishnamurti và NITYANADA được đưa vào trụ sở Trung ương của Hội Thông Thiên Học (theo cô Mary Lutyens là năm 1909) thì ông Leadbeater có mặt tại đó. Giáp mặt hai anh em ông tuyên bố rằng ở Krishnamurti vốn có cái gì vĩ đại. Với sự ưng thuận của phụ thân, hai đứa trẻ được nhận làm con nuôi của bà Besant. Bà tự cho mình thần giao cách cảm được với những âm nhơn huyền bí chứng đắc được nhiều quyền năng tinh thần, gọi là “Đức thầy”. Những sứ điệp mà bà nhận được của các Đức thầy đã báo trước sự giáng phàm của một Đấng-giáo-chủ. Ngài sẽ đến như một Đức Phật hay Đức Jesus giữa cơn hỗn loạn của thế kỷ chúng ta để chỉ đường giác ngộ và cứu rỗi cho loài người. Thông báo về sự giáng phàm của đấng giáo chủ xong, những lãnh tụ hội Thông thiên học tự cho mình có sứ mạng phải dọn đường chuẩn bị, và để qui tụ trước những môn đệ, họ bèn thành lập một hội do đoàn mệnh danh là “Hội ngôi sao Phương đông”. Hội được bà Besant sáng lập năm 1911, những lãnh tụ bèn giao quyền cai quản hội cho Krishnamurti. Hơn nữa, cuối cùng họ đã tuyên bố rằng sau một cuộc chuyển hoá hy hữu; Krishnamurti sẽ trở thành đấng giáo chủ của “Giáo hội công giáo khai phóng” (điều này khiến cho Krishnamurti im hơi lặng tiếng và né tránh cho đến bây giờ). Thật ra, nói cho đúng, giáo hội công giáo khai phóng không phải là một sáng lập mới mẻ gì, mà chỉ là một tiếp nối mới của giáo hội canh tân mang cùng một tên đã được thành lập ở Hà Lan từ trước. Về những mối liên hệ sẽ thiết lập khi đến lúc, giữa Krishnamurti và vị giáo chủ của Thế giới sẽ giáng phàm, nói cho đúng ra thì ý kiến của các hàng hội viên Thông thiên học vốn không nhất trí. Đối với nhiều hội viên, họ thấy giữa tâm thức của Krishnamurti và tâm thức của vị giáo chủ ấy đồng nhất hoàn toàn, dứt khoát, bất khả phân, như tâm thức của Krishnamurti bị triệt tiêu hay chuyển hoá đi mất luôn cả con người của Krishnamurti cũng không còn nữa mà thành vị giáo chủ ấy một cách không thể nghĩ bàn được. Đối với nhiều hội viên khác, thì họ cho rằng Krishnamurti vẫn tiếp tục còn đó vì ông là con người, nhưng tạm thời sẽ thành cái xe hay con kinh, cậu … của vị giáo chủ, tức Krishnamurti cho vị giáo chủ ấy mượn xác và lời, trong những lúc đó Ngài trở thành dụng cụ truyền đạo của vị giáo chủ ấy. Nói cách khác, trong những lúc ấy, như có cuộc “nhập xác” một phần hay toàn thẻ của vị giáo chủ vào Krishnamurti. Nhưng ta hãy kể tiếp các sự việc. Ngay lúc Krishnamurti sắp trở thành lãnh tụ của Hội ngôi sao, thân phụ của hai trẻ cho rằng bà chủ tịch của hội Thông thiên học và vị phụ tá của bà đã ép hai đứa trẻ chấp nhận một giáo dục trái với những qui luật của đẳng cấp chúng nên đòi phải giao hai trẻ lại cho ông, và đưa đơn kiện bà Besant. Toà xử, ông thắng kiện, nhưng bà chủ tịch hội Thông thiên học kháng án và sau cùng lại thắng. Thân phụ của Krishnamurti lại thất kiện. Trong lúc toà tái xét (vì người ta e chúng bị bắt cóc) hai trẻ được đưa khỏi đất Ấn và được lưu trú bí mật tại ngoại ô Ba-lê, vùng Septeuil, trong biệt thự của ông Blech, hội trưởng xứ bộ Thông thiên học tại Pháp bấy giờ. Sau đó Krishnamurti được đưa qua Anh để ăn học riêng, không vào một trường đại học nào cả. Trong lúc còn lưu trú ở Balê, Krishnamurti theo lớp Pháp văn và Phạn văn ở đại học Sorbone, tại đây Ngài được gọi thân mật là “Hoàng tử bé”. Bấy giờ, theo bà Besant, Krishnamurti chẳng những là lãnh tụ của hội Ngôi sao mà còn là vị giáo chủ tương lai của thế giới, Đấng cứu thế mới như thế, Krishnamurti phải mang lấy cái gánh nặng về tiên tri ấy. Vào năm 1922, Ngài đến California, tưởng khí hậu mát mẻ nơi đây sẽ bồi dưỡng được người em đang ốm đau của Ngài. Nhưng rồi NITYANADA qua đời năm 1925 (mà người ta tiên đoán rằng chàng sẽ lập được sự nghiệp lớn lao). Krishnamurti đau khổ vô hạn. Sau đó ông viết: “Em tôi chết rồi! Tôi buồn rầu trong cô đơn. Đi đâu tôi cũng nghe giọng em nói và tiếng em cười rạng rỡ. Tôi tìm khuôn mặt em trên mọi khách qua đường và hỏi han khắp cùng có ai gặp thấy em chăng. Nhưng tuyệt chẳng ai an ủi tôi được. Tôi nguyện cầu. Tôi tôn thờ, nhưng chư vị thần thánh đều im bặt”. Những lời đơn giản và nỗi xúc động ấy cho ta thấy tâm hồn nhạy cảm bao la của Krishnamurti. Cái chết của Nityanada đã khiến Krishnamurti chuyển hướng mạnh mẽ. Vĩnh viễn mất người em tha thiết yêu quí, tâm hồn Krishnamurti lâm vào cơn khủng hoảng và đau thương. Những phương thức được an ủi mà nhân loại đã tìm để giải cứu nỗi khổ niềm đau của họ bấy lâu đều hoàn toàn vô hiệu đối với nỗi buồn đau của Krishnamurti. Nhưng cơn khủng hoảng ấy dường như không đường cứu gỡ ấy lại được khai thông một cách đột nhiên và lạ lùng. Quả là một hiện tượng vừa phi phàm vừa hy hữu đã phát sinh “xuất kỳ bất ý” khiến về sau này, Krishnamurti thường nhắc lại trong giáo lý của Ngài, hiện tượng mà chính Ngài là người trong cuộc phải hoa cả mắt. Tôi hình dung hiện tượng ấy như vầy: Nỗi thống khổ, niềm tuyệt vọng bao la của Krishnamurti khi chạm tới chỗ tuyệt cùng biên giới nó liền hoà tan lấy nó, nhường chỗ cho một cơn ngất trí xuất thần tột độ, rồi từ chỗ hố thẳm âm u mà tâm hồn Krishnamurti đang giãy dụa khắc khoải, một tia sáng bất thần loá lên, thể táng của Krishnamurti đồng thời bừng mở. Từ đó, nơi Krishnamurti hiện diện một niềm diễm phúc vô biên thường trực mà Ngài không mời gọi và không dể đáp ứng cho điều gì cả, một sự hiện diện không nguyên nhân. Về sau, Ngài lược thuật cơn khủng hoảng ấy và việc kết thúc vừa lạ lùng vừa quyết liệt như sau: “Bấy giờ tôi đau khổ, nhưng tôi bắt đầu thoát ly tất cả những gì trói buộc tôi, cho đến sau cùng tôi đồng nhất với người thân yêu, tôi đạt tới trùng dương giải thoát và tạo dựng nền giải thoát ấy trong tâm hồn tôi”. Từ cuộc chuyển hoá đột ngột đó Krishnamurti trở nên mới lạ hẳn, ông bắt đầu giảng đạo với một niềm tin vững chắc và uy nghi khác thường. Ngài tuyên bố rằng mình đã đồng nhất với người thân yêu của mình, Ngài đã đạt đến cõi bờ giải thoát mà người ta cho rằng Ngài đã giác ngộ như Đức Phật ngày xưa. Bấy giờ dường như Krishnamurti sống trong cơn thần bất tuyệt, trong cơn ở cảm ứng đạo giao miên tục với sự hiện diện thiêng liêng đã thị hiện nơi Ngài mà Ngài nói đến rất thành khẩn. Vào thời đó, ngôn ngữ của Ngài chứa chan nhiệt tình trìu mến dịu hiền và réo rắt thi ca. Lúc ấy, Ngài trở nên nguồn quyến rũ đối với thính giả trong cử chỉ xúc động khuyên mời tham gia giải thoát, vào nguồn an lạc nơi Ngài. Bấy giờ, Krishnamurti cảm hứng nên những vần thơ mát giọt huy hoàng, phát lộ nguồn cảm xúc lung linh. Nhưng cũng từ đó, Krishnamurti bắt đầu một cuộc cách mạng nội tại. Đang lúc Krishnamurti chiêm ngưỡng thánh dung của người chí thân của Ngài với những hiện diện vô hình vây quanh, người ta tưởng chừng Krishnamurti sẽ trở thành một trong những nhà đạo sĩ huyền nhiệm mà sử sách tôn giáo trên thế giới đã kể lại, e rằng rồi Ngài cứ mải miết sùng thượng vị thần linh mà Ngài vừa phát giác tự tâm. Nhưng Krishnamurti nghi ngờ hình ảnh cụ thể đã ứng hiện cho Ngài ấy và Ngài không thể yên lòng chừng nào Ngài chưa giám thâm nhập và xuyên qua được hình ảnh ấy. Cái năng lực đại nghi ấy ngay trong cơn ngấy ngất xuất thần là nét đặc trưng của Krishnamurti. Cái năng lực ấy, về sau khởi hứng Ngài viết những hàng mà tôi trích dẫn dưới đây, những hàng biện minh phi phàm và vĩ đại nhất chưa hề viết ra, biện minh cho cơn đại nghi mà Krishnamurti đã hùng tâm nêu gương đem mọi khám phá cao tột ở tự tâm đưa vào ngọn hoả quang thanh lọc ấy: “Tuyệt chẳng có gì tồn tại được đối với những kẻ chấp nhận mọi sự từ một uy lực ngoại tại, đối với những kẻ còn phủ đầy bụi bặm của tập tục bụi bặm của những tín ngưỡng đang tàn lụi hấp hối. Nhưng khi các bạn dựng dậy lòng nghi ngờ và phủi sạch lớp bụi bặm ấy đi thì còn lại cái kết quả ấy đi thì còn lại cái kết quả của niềm tự quyết, của niềm ngây ngất trí thức và tình cảm . Kết quả ấy tuyệt chẳng có gì đập cho trụi lá được. Càng hoài nghi các bạn càng nên lạnh lùng, khắc nghiệt xem xét hết mọi mặt những điều mình tin tưởng, rồi chân lý sẽ thị hiện với tất cả thần lực và vẻ đẹp uyên nguyên của nó. Các bạn cho rằng: “Nếu hoài nghi tất cả, ắt chúng tôi chẳng còn gì nữa hết”. Thế càng hay chứ sao! Những thứ các bạn bám víu chúng quan trọng tới mức nào nếu chúng bị cơn hoài nghi đập cho trụi hết lá? Những tập tục, những tích luỹ của các bạn có giá trị nhân bản đạo đức tới mức nào? Nếu bão tố của nghi ngờ có thể quét sạch hết đi? Té ra mọi thứ ấy chỉ như một toà nhà xây trên cát: Chúng bị hất tung khi lực lượng cuồng phong của sóng biển đổ ập tới. Vì né tránh cuộc sống, vì sợ hãi mọi việc, mà các bạn tìm cách ẩn núp trong những lều trại hấp hối, và đau khổ đã cư ngụ ngay trong chỗ ẩn núp của bạn. Nhưng có dựng dậy lòng nghi ngờ vá cơn đau khổ giữa lúc cõi lòng tràn đầy hân hoan mới có thể kêu gọi các bạn tạo dựng cho mình một cái gì vĩnh cửu và khơi nguồn hạnh phúc được. Vì thế, tôi muốn thúc đẩy mỗi hành giả đang đi tìm chân lý phải mời gọi tất cả cuồng phong bão tố trần gian để nó tàn phá hết nỗi hèn yếu của tâm trí mình… Người mà không giao giờ biết hoài nghi sẽ không thâm nhập vào những quãng trời tự do, là nơi thường trú của chính chánh tín, chánh giác và tự tại. “Ta phải bủa lưới hoài nghi lên tất cả mọi sự để sau cùng niềm chánh tín phát sinh. Không phải đợi đến lúc mệt mỏi hay đau khổ mới châm ngòi hoài nghi vì lúc ấy bất cứ ai cũng làm được. Mà chính là phải biết hoài nghi ngay trong những cơn ngây ngất, vì chỉ lúc ấy các bạn mới phát giác được món còn lại là chân lý hay ngụy lý mà thôi”. Nếu không có cơn hoài nghi vút trời ấy thì Krishnamurti bất quá chỉ là một người sủng sốt hoa mắt, quỳ sụp trước một thần linh nào ngoại tại và vô hình mà thôi. Nhờ có nó mà Krishnamurti đã xuyên qua mọi hình tượng, xuyên thủng mọi vòm trời, vượt thoát khỏi mọi giấc mơ. Rồi chư vị thánh thần đều tan thành mây khói. Rồi chẳng những chỉ còn trơ trọi lại mình Krishnamurti mà hơn thế nữa (cái kết liễu lạ lùng, cái hiện tượng quái đản dường như khó hiểu) Krishnamurti cũng lại dường như biến mất, mất cái ý thức sâu sắc về mình và tuy vẫn sống đấy mà dường như đã biến đi đâu, nhìn chẳng thấy mình nữa. Để rồi ra có dịp xét lại hiện tượng này, bây giờ phải kể tiếp tiểu sử ngoại diện của Ngài. Có hàng vạn người tin theo nhưng Krishnamurti chỉ nói với họ những điều phổ quát mập mờ. Bấy giờ Ngài tuyên bố rằng Ngài sẽ là đấng giáo chủ của thế giới. Giáo chủ theo nghĩa nào? Theo bà Besant, Krishnamurti tức là Đấng Christ tái sinh giáng phàm. Dù sao, tin ấy cũng gieo một cảm hứng cuồng nhiệt. Krishnamurti được ca ngợi vô cùng nồng nhiệt, những ca ngợi nhiệt liệt có thể quay mòng mòng được những kẻ cứng đầu, có thể lung lạc được kẻ trầm tĩnh xuất chúng. Đến Trichinopoly, toa tàu của Ngài đi như bị phủ ngập toàn những hoa là hoa. Ông Van Pallandt, một bá tước Hoà Lan, trang trọng tặng Ngài một lâu đài lịch sử toạ lạc giữa một điền viên lộng lẫy gồm năm nghìn acres . Nhưng tất cả những trầm hương sang trọng đưa đến ấy vẫn không lay động được tâm hồn Krishnamurti. Ngài vẫn hoàn toàn sáng suốt và giản dị một cách lạ lùng. Nhưng rồi những khó khăn lại xuất hiện. Chẳng những các lãnh tụ Thông thiên học đã từng tuyên bố sự giáng phàm của vị giáo chủ thế giới mà thôi, họ lại còn (nếu nói được) hoạch định toàn bộ nghi thức tiếp đón cuộc giáng phàm ấy. Hỏi vậy Krishnamurti sẽ hoan hỉ đảm nhận những vai trò dựng sẵn cho Ngài chăng? Ngài sẽ khoác những hồng y sắm sẵn để hành lễ ư? Đặc biệt nhất, hỏi vậy rồi Ngài sẽ nắm quyền điều khiển những cơ quan thiết lập sẵn để phục vụ Ngài chăng? Đây, tôi muốn nói cái hội “Masonery”, một phong trào hỗn hợp hướng theo phái Tam điển và theo giáo hội công giáo tự do, nghi thức thì mô phỏng theo nghi thức của giáo hội La mã mà triệt loại hết mọi dấu vết về sự oán ghét hay thinh nộ của linh thiêng? Rồi Ngài sẽ lên ngôi đã chuẩn bị sẵn cho Ngài chăng? Đây là những vấn nạn cho những kẻ sùng tín Ngài. Sự giản dị và im lặng của Krishnamurti về các cơ quan kể trên không giải toả được chút nào những lo âu thái quá. Rồi những áp lực bắt đầu đổ tới với Krishnamurti, ban đầu còn kín đáo, rồi ngày càng hiện rõ. Cuối cùng cơn giông tố tiên đoán liền bùng nổ: Krishnamurti gạt bỏ toàn bộ những tổ chức lẫn nghi lễ. Ngài đứng trước một thế lưỡng nan đã từng đưa đến cho nhiều người trong lịch sử. Ngài có thể: hoặc giữ hoàn toàn nét thuần tuý của thông điệp Ngài để can đảm nhìn thấy một số lớn thính giả rời bỏ mình, hoặc là hạ thấp sĩ diện ấy cho vừa tầm kính thước thiển cận dung tục, để số lượng tín đồ tăng thêm. Không do dự gì hết, Krishnamurti dấn bước vào nẻo khó khăn, trong một bài diễn văn đích đáng, Ngài tuyên bố giải tán Hội ngôi sao. Cuộc xung đột đã kết liễu, việc thảo luận bế mạc. Ngài đưa ra quyết định trên vào năm 1929 tại Ommen. Vài trích dẫn sau đây của bài diễn văn cho buổi giải tán ấy chứng tỏ chỗ cao cả nghi phàm và nét cương nghị của Ngài: “Chân lý là một nơi chẳng có lối vào, trong ấy cũng chẳng có tôn giáo, môn phái nào cả. Đó là quan điểm của tôi và tôi luôn nắm vững nó một cách tuyệt đối vô điều kiện… “Chỉ chừng năm người chẳng hạn nhưng họ biết lắng nghe, DÁM SỐNG họ đối mặt với vĩnh cửu thế cũng là quá đủ. Có ích gì khi mà hàng ngàn người không thấu hiểu, ướp cứng trong mối thành kiến của họ, không muốn thu nhận điều gì mới mẻ, uyên nguyên, mà chỉ muốn mọi sự phải được diễn dịch, phải được hạ thấp xuống cho vừa tầm cá thể khô khan và ứ đọng của họ…”. Vì lời tôi là chân lý, tôi muốn mọi người tìm hiểu. Tôi phải được tự do, chứ không muốn họ kết bè theo tôi, tôi không muốn là chiếc lồng tôn giáo, môn phái mà họ là tín đồ. Họ phải biết thoát ly mọi thứ sợ hãi: sợ hãi tôn giáo, sợ hãi tình thương, sợ hãi cái chết và cả đến sự sống. Như một người nghệ sĩ vẽ một bức tranh vì đó là nghệ thuật và cũng là niềm vui của y, là sự thể hiện, vinh quang của y, là sự triển nở của y, tôi hành động như vậy chứ không hành động để chờ nhận được bất cứ món gì của bất cứ ai. “Các bạn đã quen thói với uy lực hay bầu không khí của uy lực”. “Tôi đã thể nhập với chân lý thử hỏi tôi có thể làm được gì với một đoàn người giả dối, không trung thực. “Ước muốn của tôi là tạo nên những con người, những con người tự do vô điều kiện. Tôi muốn giải thoát con người để họ có thể hoan ca lồng lộng, không gánh nặng, độc lập, tiêu sái trong niềm tự do. Krishnamurti con người mà ta đã thấy Ngài xúc động, bàng hoàng bởi cái chết của em mình, giờ đây nhường chỗ cho một con người khắc nghiệt hơn. Nhưng Ngài nói cho ta biết rằng đấy chỉ là bề ngoài thôi, nhưng nhiều người lấy đấy làm nản. Krishnamurti bảo: “Khi bạn đến một lương y giải phẫu, ông ta mổ cho bạn, phải chăng ông ta là ác tâm? Cũng lẽ đó, sở dĩ tôi không nói quanh quẩn với bạn đâu phải vì chẳng có tình thương mà trái lại đằng khác”. * * * Krishnamurti vừa làm tiêu tan những ảo vọng cuối cùng. Sự kiện ấy khiến Hội Thông thiên học lâm vào cơn khủng hoảng nghiêm trọng. Nhiều hội viên ra nhập hội ngôi sao nay tách lìa khỏi Krishnamurti. Từ nay họ chờ đợi một đấng cứu thế khác dễ chịu hơn. Số hội viên của hội Ngôi sao giảm sút rõ rệt và hoa lợi cũng giảm. Tuy nhiên, một cơ sở cụ thể vẫn còn. Gạt bỏ hết mọi tính cách cứu thế hay huyền bí, cơ quan ấy dùng để phổ biến tư tưởng của Krishnamurti, tổ chức những buổi họp để Krishnamurti đến nói, không mang tư thế của một lãnh tụ mà là tư cách của một con người thường thôi. Chúng ta đã đến giai đoạn hiện tại. Krishnamurti nay chỉ là một người du hành khắp thế giới và đàm đạo với những người thật sự muốn nghe Ngài. Cho đến đây, những điều kể trên thuộc về đời công của Ngài. Con người ấy thế nào? Theo chỗ nhận thấy của những kẻ gần gũi Ngài, Réhault tả Krishnamurti như sau: “Đầu Ngài rất tròn trịa, thanh thoát với những đường nét giao hoà bộc lộ một tổng hợp phi phàm. Nhiều lúc đôi mắt Ngài như những hố thẳm u hoài, lắm khi một niềm từ bi sót xa nặng trĩu bờ mi, hoặc đột nhiên đầu Ngài vươn lên - như một ký giả Mỹ viết - bấy giờ Ngài có vẻ uy nghi như một con chim ưng. Và thế rồi môi Ngài hé đãi một hàm răng trắng tinh, mặt Ngài bừng sáng dưới nụ cười tươi hồn nhiên như trẻ thơ. Chân dung trên dường như cũng đã khá đủ. Chính tôi từng thấy Krishnamurti phá lên cười như một cậu sinh viên thứ thiệt, nhưng khi Ngài nói với tôi về chiến cuộc Y-pha-nho, tôi lại thấy khuôn mặt Ngài đau buồn tiều tuỵ, một vẻ mặt bỗng dưng già cỗi, khiến tôi hầu như kinh khiếp. Tuổi của Ngài dường như lạ lùng, không định được. Theo chỗ tôi nhận thấy, thái độ thường nhật của Ngài giản dị đến mức quá tầm thường. Ở bên Ngài, tôi không thấy bốc toả một bầu không khí uy lực như những nhân vật vĩ đại nào. Rõ ràng Ngài không có ý thị oai hay muốn nắm giữ những thính giả của mình. Không khác với lúc giải tán Hội Ngôi sao trước kia, Krishnamurti vẫn không quan tâm có được ai theo Ngài. Một hôm ở Ommen Ngài nói: “Mong rằng kỳ sau quí Ngài sẽ đến ít hơn”. Tôi đoán trước sự tò mò tự nhiên của độc giả để miêu tả hình dung riêng của Krishnamurti, nhưng tốt hơn xin đề phòng những nét tôi đã tả về Ngài. Ngài là một con người vừa giản dị lại cũng vừa huyền nhiệm, vừa gần lại vừa xa, như một tổng hợp lạ lùng không thể tả được. Trong tập kỷ yếu của Hội Ngôi sao xuất bản năm 1931, Claude Bragdon đã viết nhiều trang sáng tỏ về Ngài, xin trích vài đoạn: “Điều ta cảm nhận trước tiên ở Krishnamurti là sự mâu thuẫn: Ngài là một nghịch lý sống động nổi bật hơn phần đông mọi người. Về vật lý, Ngài thuộc về nam tính, người Ấn Độ, nhưng về mặt tâm linh Ngài thuộc loại lưỡng tính, nghĩa là vừa nam vừa nữ. Về mặt tâm hồn, Ngài là một tổng hợp Đông tây. Cơn lưỡng cực chan hoà mọi nét nơi Ngài. Ngài vừa quyết liệt vừa mong manh, vừa chua chát, vừa dịu hiền, vừa hoài nghi vừa tràn đầy tin tưởng. Ngọt bùi, cay đắng cứ là phần thiên phú suốt đời Ngài: một cuộc đời bao la... Sưu tầm Xem tiếp: Để đừng... trở thành đệ tử -------------------- The last |
|
|
|
![]() ![]() |
| .::Phiên bản rút gọn::. | Thời gian bây giờ là: 21st March 2026 - 05:19 PM |